[Luận văn 2023] Xác định thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh – ThS. Hà Phạm Phương Ngân
Định dạng | Link tải |

Định dạng | Link tải |
Đặt vấn đề
Thuế có vị trí và vai trò quan trọng trong đời sống, xã hội và kinh tế. Thuế là công cụ chủ yếu huy động nguồn thu nhập lớn của Chính phủ, để duy trì và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ cần thiết của Chính phủ. Trong đó, thuế thu nhập doanh nghiệp là bộ phận trong hệ thống thuế, góp phần lớn tạo nên nguồn ngân sách của Nhà nước. Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp đã được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 03/06/2008 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 cùng với những mục tiêu cụ thể như bao quát và mở rộng được đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế; khuyến khích lao động, sản xuất, kinh doanh; góp phần đảm bảo công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo; đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước. Nhằm đảo đảm tỷ lệ huy động vào NSNN từ Thuế thu nhập doanh nghiệp ở mức ổn định, hợp lý và phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội Quốc gia theo từng giai đoạn, “Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 32/2013/QH13 đã được Quốc hội thông qua ngày 19/06/2013, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2014 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế số 71/2014/QH13 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015.”
Trong nền kinh tế thị trường các khoản thu nhập của DN rất đa dạng nếu căn cứ vào hoạt động hoặc giao dịch làm phát sinh thu nhập thì thu nhập sẽ gồm: thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, thu nhập từ lao động thu nhập từ bản quyền, thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn,… Các loại thu nhập kể trên không phải thu nhập nào cũng là thu nhập chịu thuế mà chỉ một số khoản thu nhập đáp ứng những điều kiện nhất định mới là thu nhập chịu thuế. Hiện nay nguồn luật điều chỉnh quan hệ thuế thu nhập từ nhiều các văn bản pháp luật khác nhau bởi thuế thu nhập là thuế trực thu nên nó là đối tượng được điều chỉnh bởi hiệp định “tránh đánh thuế hai lần”.
Thuế thu nhập doanh nghiệp tác động tới nhiều nhân tố trong xã hội, như phân phối thu nhập tiền lương tác động để khả năng khai thác thu hút vốn đầu tư tác động tới việc di chuyển vốn và có thể làm thay đổi cơ cấu nền kinh tế.
Do tác động của thuế thu nhập công ty rất lớn nên việc xây dựng pháp luật về thuế thu nhập cần hoàn thiện hơn là điều mà tất cả các nước đều hướng tới. Để đảm bảo cân bằng giữa lợi ích nhà nước và lợi ích doanh nghiệp, cần phải đẩy mạnh hơn nữa các quy định của pháp luật về cơ chế khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp mục tiêu thu đúng, thu đủ, thu hợp lý đảm bảo được tính công bằng trong xã hội và tạo ra động lực bền vững thúc đẩy sự phát triển của Quốc gia.
Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho các chính sách vĩ mô của Nhà nước, vì vậy các quy định của pháp luật về thuế có vai trò hết sức trong chiến lược phát triển của một quốc gia. Thuế thu nhập doanh nghiệp được ra đời từ những yêu cầu chiến lược của một quốc gia như thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập, góp phần đảm bảo công bằng xã hội, gia tăng NSNN. Thuế thu nhập doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành qua các năm 1999; năm 2004; năm 2009.
Ngoài ra, thực hiện Chiến lược cải cách thuế giai đoạn 2011 – 2020; cần điều chỉnh giảm mức động viên thuế tạo điều kiện tăng tích luỹ; tích tụ cho doanh nghiệp. Mức thuế suất phổ thông tuy không cao hơn các nước trong khu vực nhưng cần được nghiên cứu từng bước điều chỉnh giảm để đảm bảo sự hấp dẫn trong thu hút quá trình đầu tư.
Pháp luật về thuế TNDN đã có những quy định cụ thể hơn về đối tượng chịu thuế, thu nhập chịu thuế, thu nhập được miễn thuế, căn cứ tính thuế, phương pháp tính thuế và ưu đãi thuế TNDN trong một kỳ tính thuế nhất định.
Doanh nghiệp thực hiện các quy định của pháp luật về đóng thuế thu nhập doanh nghiệp còn gặp nhiều lúng túng và bất cập, gây thất thoát cho NSNN. Bên cạnh đó, sự biển đổi nhanh của nền kinh tế cũng làm bọc lộ một số hạn chế, khó khăn của pháp luật thuế TNDN. Vì vậy, cần đề ra các phương án nhằm giải quyết hợp lý các vấn đề về quản lý doanh nghiệp trong việc khai, nộp thuế, tính thuế và các khoản được khấu trừ theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp như tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật về thuế TNDN, góp phần nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về tác dụng thuế TNDN, từ đó nâng cao ý thức tự giác chấp hành nghĩa vụ nộp thuế.
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm tài chính – kinh tế lớn của Việt Nam, được sự đầu tư của nhiều doanh nghiệp lớn, nhỏ, trong và ngoài nước. Năm 2021, tổng số doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh là 216.170 đơn vị1, thuế TNDN thu vào ngân sách thành phồ Hồ Chí Minh là 75.531 tỷ đồng. Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắt khó khăn cho doanh nghiệp trong việc thi hành pháp luật và tính thuế thu nhập doanh nghiệp như việc thay đổi liên tục của các văn bản quy phạm pháp luật cùng với đó là các đối tượng nộp thuế cũng có nhiều hành vi gian lận thuế, từ đó gây thất thoát lớn cho ngân sách tại tp. Hồ Chí Minh.
Cùng với sự thay đổi ngày càng nhanh của nền kinh tế, việc xác định TNCT của DN cũng gặp khó khăn khi có nhiều văn bản được ban hành cùng với những yếu tố chủ quan từ phía doanh nghiệp, khiến việc xác định TNCT của doanh nghiệp thường xuyên xảy ra sai sót, từ đó dẫn đến việc tính thuế thu nhập doanh nghiệp không còn đúng. Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Xác định thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ của mình với mục đích là kế thừa, tiếp nối các vấn đề nghiên cứu, nhằm tìm ra những khó khăn, bất cập và lý do trong thực tiễn khi các doanh nghiệp thi hành pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp, thông qua đó đề xuất các khuyến nghị để các DN thực hiện đúng nghĩa vụ thuế, nhằm tránh thất thoát nguồn thu ngân sách của thành phố Hồ Chí Minh.
Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu
Pháp luật về thuế TNDN luôn là đề tài được quan tâm của mọi tầng lớp xã hội.Vì đây là đề tài không còn mới và đã được nhiều nhà nghiên cứu, nhà hoạt động thực tiễn, nhà lý luận học trong nước và ngoài nước quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau. Trong đó một số công trình, tạp chí đã được công bố như sau: Thứ nhất, một số Luận án, Luận văn Thạc sĩ có liên quan đến pháp luật thuế TNDN ở Việt Nam có thể kể đến như:
Đề tài luận văn thạc sĩ của Phạm Nguyễn Thu Hiền về “Quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp tại chi cục Thuế Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh”. Tập trung vào phân tích phương pháp thu thuế TNDN tại chi cục thuế Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, tác giả đã tổng hợp các thông tin và đưa ra các khuyến nghị cho chi cục Thuế Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đạt được thành tựu trong nhiệm vụ thu NSNN tại tỉnh Đồng Nai.
Đề tài của Dương Quang Ngọc về “Hoàn thiện thu nhập doanh nghiệp nhằm thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam, Học viện tài chính”. Công trình tập trung khá nhiều vào nội dung thuế TNDN nhằm tái cơ cấu nền kinh tế, mối quan hệ lẫn nhau giữa thuế TNDN với việc thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế. Từ đó, tác giả đưa ra các phương án thích hợp nhằm hoàn thiện thuế TNDN và phù hợp khi áp dụng vào môi trường kinh tế thực tiễn.
Luận văn thạc sĩ của Cao Thị Ngọc Huyền về “Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tại cục thuế tỉnh Thừa Thiên Huế, Học viện hành chính Quốc gia”. Đề tài phân tích từ bất lợi trong quản trị thuế tại tỉnh Thừa Thiên Huế và các thành tựu đã đạt được, từ đó đề xuất hoàn thành các chiến lược và mục tiêu trong quản trị về công thức, về doanh nghiệp và áp dụng các biện pháp xử phạt phù hợp.
Đề tài luận văn thạc sĩ luật kinh tế của Trần Quốc Trung về “Pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp từ thực tiễn huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội, Học viện khoa học xã hội năm 2020”. Nội dung về các nhận định cơ bản về thuế đặc biệt là nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về thuế TNDN. Bên cạnh đó, làm rõ việc thực hiện pháp luật về thuế tại huyện Thường Tín thành phố Hà Nội và đưa ra những quan điểm góp phần cải thiện pháp luật và tăng hiệu quả áp dụng về thuế trên địa bàn huyện Thường Tín.
Đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế của Nguyễn Thị Ngọc Vân về đề tài “Tác động của thông tin về sự chênh lệch giữa kế toán và thuế đối với việc dự đoán thu nhập trong tương lai của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, trường đại học kinh tế Hồ Chí Minh”. Đề tài làm về tác động thông tin làm khác biệt số liệu giữa kế toán và thuế trong dự toán thu nhập của DN tại TP.HCM, qua đó kết luận thu nhập doanh nghiệp, chênh lệch tạm thời giữa thu nhập kế toán và TNCT, tài sản cố định, nợ dài hạn có ảnh hưởng thế nào đến thu nhập DN trong tương lai. Từ đó, luận văn kết luận và tìm ra các giải pháp cần thiết cho DN.
Đề tài luận văn thạc sĩ luật kinh tế của tác giả Bùi Thị Thùy Linh về đề tài “So sánh về thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam và Nhật Bản”. Luận văn so sánh về nhiều khía cạnh khác nhau về thuế giữa Việt Nam và Nhật Bản. Sự khác biệt thường đến chủ yếu là trình độ nhận thức, trình độ kinh tế, mức độ đầu tư nước ngoài, bộ máy chính phủ. Qua đó, có thể tham khảo mô kinh nghiệm của Nhật Bản để hoàn thiện mô hình pháp luật thuế TNDN ở Việt Nam.
Thứ hai, các bài viết tiêu biểu được đăng trên các tạp chí khoa học với các nội dung như sau:
Bài viết nghiên cứu của Nguyễn Thị Loan và Lê Thị Tuyết Hoa về “Thực trạng không tuân thủ thuế thu nhập doanh nghiệp – nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh, trên tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng năm 2020”, số 212+213. Bài viết tìm hiểu những yếu tố dẫn đến không tuân thủ thuế TNDN và các hạn chế trong nội dung pháp lý liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế TNDN. Bài nghiên cứu đã làm rõ được ba hạn chế hiện hữu trong việc không tuân thủ thuế Thu nhập doanh nghiệp là hạn chế từ công tác quản lý thuế của cơ quan thuế, hạn chế từ những nội dung trong chính sách thuế và từ nguồn nhân lực hoạt động điều tiết kinh tế của quốc gia.
Bài viết “Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp của các công ty trên địa bàn tp. Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận” của TS. Nguyễn Ngọc Thùy và Trịnh Ngọc Sơn đăng trên tạp chí Kinh tế và Dự báo tháng 11/2020. Tác giả đã nghiên cứu dựa trên phương pháp phân tích hồi quy Binary Logistic và tìm ra các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi gian lận thuế là thuế suất, ngành nghề kinh doanh, nợ phải trả, quy mô kinh doanh và lời hoặc lỗ của năm trước. Nêu phương pháp phù hợp cho từng yếu tố.
Tuy các đề tài về nội dung thuế TNDN rất đa dạng, với nhiều góc nhìn và nghiên cứu lý luận. Tuy nhiên, đa phần các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc điều hành, quản trị của các cục, chi cục thuế hoặc chỉ chú trọng vào nghiên cứu dưới góc độ phân tích các hành vi trốn thuế, gian lận thuế của DN. Trong khi các vấn đề về thi hành pháp luật trong cách xác định TNCT của doanh nghiệp theo Luật thuế TNDN vẫn chưa được nghiên cứu sâu. Vì vậy, cùng với các công trình nghiên cứu, nguồn tư liệu tham khảo quý giá, tác giả thực hiện “Xác định thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh” để làm rõ hơn các vấn đề còn bỏ ngỏ.
Kết cấu luận văn
Nội dung của luận văn được kết cấu thành ba chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về thuế TNDN và xác định thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện xác định TNCT của doanh nghiệp tại tp. Hồ Chí Minh.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi thuế thu nhập tại tp.Hồ Chí Minh.
Định dạng | Link tải |