[Luận án 2022] Pháp luật quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá – TS. Phạm Thị Hương Giang
Định dạng | Link tải |

Mục lục
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| LỜI CAM ĐOAN | |
| DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT | |
| MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Tính cấp thiết của đề tài | 1 |
| 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án | 4 |
| 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án | 5 |
| 4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án | 6 |
| 5. Đóng góp mới về khoa học của luận án | 7 |
| 6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án | 8 |
| 7. Kết cấu của luận án | 8 |
| Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI | 10 |
| 1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu | 10 |
| 1.1.1. Về tình hình nghiên cứu | 10 |
| 1.1.1.1. Về khái niệm lao động nước ngoài, quản lý lao động nước ngoài | 10 |
| 1.1.1.2. Về nội dung pháp luật quản lý lao động nước ngoài | 13 |
| 1.1.1.3. Về bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế tác động đến lao động nước ngoài | 19 |
| 1.1.1.4. Về thực trạng quy định về tuyển dụng lao động nước ngoài tại Việt Nam | 21 |
| 1.1.1.5. Về thực trạng quy định về hợp đồng lao động đối với lao động nước ngoài tại Việt Nam | 23 |
| 1.1.1.6. Về thực trạng quy định về thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong hoạt động quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam | 24 |
| 1.1.1.7. Về một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam | 27 |
| 1.1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu | 33 |
| 1.1.2.1. Nhận xét tổng quát | 33 |
| 1.1.2.2. Những kết quả trong nghiên cứu được kế thừa | 33 |
| 1.1.2.3. Những vấn đề cần được nghiên cứu trong luận án | 35 |
| 1.2. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu | 36 |
| 1.3. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu | 38 |
| KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 | 41 |
| Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI VÀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ TOÀN CẦU HÓA | 42 |
| 2.1. Những vấn đề lý luận về lao động nước ngoài và quản lý lao động nước ngoài | 42 |
| 2.1.1. Lao động nước ngoài | 42 |
| 2.1.1.1. Khái niệm lao động nước ngoài | 42 |
| 2.1.1.2. Đặc điểm của lao động nước ngoài | 46 |
| 2.1.1.3. Phân loại lao động nước ngoài | 49 |
| 2.1.1.4. Tác động của lao động nước ngoài trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa | 51 |
| 2.1.2. Hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa và quản lý lao động nước ngoài | 54 |
| 2.1.2.1. Khái quát về hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa | 54 |
| 2.1.2.2. Quản lý lao động nước ngoài | 56 |
| 2.2. Những vấn đề lý luận về pháp luật quản lý lao động nước ngoài | 63 |
| 2.2.1. Khái niệm pháp luật quản lý lao động nước ngoài | 63 |
| 2.2.2. Vai trò của pháp luật quản lý lao động nước ngoài | 65 |
| 2.2.3. Đặc điểm của pháp luật quản lý lao động nước ngoài | 67 |
| 2.2.4. Nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật quản lý lao động nước ngoài | 70 |
| 2.2.5. Nội dung điều chỉnh của pháp luật về quản lý lao động nước ngoài | 74 |
| 2.2.5.1. Chủ thể quản lý lao động nước ngoài | 74 |
| 2.2.5.2. Nội dung quản lý lao động nước ngoài | 76 |
| 2.2.5.3. Biện pháp quản lý lao động nước ngoài | 85 |
| KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 | 94 |
| Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI LÀM VIỆC TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN | 95 |
| 3.1. Thực trạng pháp luật quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam hiện nay | 95 |
| 3.1.1. Chủ thể quản lý lao động nước ngoài | 95 |
| 3.1.2. Nội dung quản lý lao động nước ngoài | 97 |
| 3.1.2.1. Tuyển dụng người lao động nước ngoài | 97 |
| 3.1.2.2. Hợp đồng lao động đối với người lao động nước ngoài | 115 |
| 3.1.3. Biện pháp quản lý lao động nước ngoài | 119 |
| 3.1.3.1. Cấp giấy phép lao động | 119 |
| 3.1.3.2. Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong hoạt động quản lý lao động nước ngoài | 120 |
| 3.1.4. Đánh giá chung | 127 |
| 3.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam hiện nay | 130 |
| 3.2.1. Kết quả đạt được | 130 |
| 3.2.2. Hạn chế | 132 |
| 3.2.3. Nguyên nhân của những hạn chế về thực tiễn thực hiện pháp luật quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam | 141 |
| KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 | 144 |
| Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI LÀM VIỆC TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ TOÀN CẦU HÓA | 145 |
| 4.1. Cơ sở kinh tế, xã hội và pháp lý cho việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa | 145 |
| 4.1.1. Cơ sở kinh tế cho việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa | 145 |
| 4.1.2. Cơ sở xã hội cho việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa | 146 |
| 4.1.3. Cơ sở pháp lý cho việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa | 147 |
| 4.2. Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa | 148 |
| 4.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa | 148 |
| 4.2.1.1. Các yêu cầu hoàn thiện pháp luật quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa | 148 |
| 4.2.1.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa | 155 |
| 4.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa | 160 |
| KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 | 167 |
| KẾT LUẬN | 168 |
| DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN | 171 |
| TÀI LIỆU THAM KHẢO | 172 |
Định dạng | Link tải |
Tình hình nghiên cứu đề tài
1.1.1. Về tình hình nghiên cứu
Vấn đề QLLĐNN làm việc tại Việt Nam thu hút được sự quan tâm của các nhà quản lý, các chuyên gia pháp lý, các nhà kinh tế và được tranh luận tại một số diễn đàn, đặc biệt từ sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới- (WTO). Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu, bài viết, sách báo trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án, tác giả tổng quan những quan điểm chính của các công trình nghiên cứu theo những nhóm nội dung sau:
1.1.1.1. Về khái niệm lao động nước ngoài, quản lý lao động nước ngoài
* Về khái niệm lao động nước ngoài
Trước khi nghiên cứu khái niệm cụ thể về LĐNN, một số nhà nghiên cứu tiếp cận khái niệm “di dân” như tác giả Doãn Hùng phân tích “di dân” theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp trong cuốn sách tham khảo Di dân quốc tế: Bản chất, xu hướng vận động và định hướng chính sách quản lý, 2013, Nxb. Chính trị Quốc gia. Theo tác giả, di dân được gọi là sự chuyển dịch của con người trong không gian và thời gian nhất định. Đồng tình với quan điểm này, tác giả Nguyễn Thị Lan Hương làm rõ khái niệm “di dân” trong Đề tài cấp Nhà nước “Vấn đề lao động người nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế”, 2014; mã số KX.02.01/11-15 của Viện Khoa học lao động & xã hội – Bộ LĐTB&XH là “quá trình di chuyển của con người gắn liền với sự thay đổi chỗ ở thường xuyên nhưng cố định của họ, bên cạnh những thay đổi vị trí, môi trường từ nơi đi tới nơi đến trong một khoảng thời gian nhất định”. Như vậy, các tác giả đều thống nhất quan điểm có mối liên hệ giữa sự di chuyển với việc thiết lập nơi cư trú mới.
LĐNN được tiếp cận dưới tên gọi khác như lao động di trú. Đa phần các tác giả như Đào Thị Lệ Thu trong Luận văn Thạc sĩ “Pháp luật về LĐNN làm việc tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện”, 2012, Trường Đại học Luật Hà Nội; tác giả Nguyễn Trung Kiên trong Luận văn Thạc sĩ “Pháp luật về LĐNN làm việc tại Việt Nam – Thực trạng và một số kiến nghị”, 2015, Viện Đại học Mở Hà Nội; tác giả Trần Thúy Hằng trong Luận án Tiến sĩ “Pháp luật điều chỉnh QHLĐ của người LĐNN tại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế”, 2018, Trường Đại học Luật Hà Nội; tác giả Trịnh Thị Hoàng Anh trong Luận văn Thạc sĩ “Vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người LĐNN làm việc tại Việt Nam”, 2015, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội đều thống nhất đưa ra khái niệm lao động di trú theo Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những người di trú và các thành viên gia đình họ, 1990 “là một người đã, đang và sẽ làm một công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân”. Trong khi đó, tác giả Trần Thu Hiền trong Luận văn Thạc sĩ “Pháp luật về sử dụng LĐNN tại Việt Nam”, 2011, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội dựa trên các tiêu chí phân loại lao động di trú để nhận biết lao động di trú.
Khái niệm LĐNN dưới tên gọi lao động di trú và định nghĩa đối tượng lao động di trú vì mục đích việc làm cũng được đề cập ở các công trình nước ngoài như cuốn sách Public Health Aspects of Migrant Health: A Review of the Evidence on Health Status for Labour Migrants in the European Region (2015) tạm dịch “Các khía cạnh về sức khỏe cộng đồng của sức khỏe người di cư: Bình luận về bằng chứng tình trạng sức khỏe của NLĐ di cư ở khu vực châu Âu”, của Simon J, Kiss N, Łaszewska A và tác giả Dr. Cinzia Rienzo định nghĩa LĐNN dưới ít nhất ba hình thức: nơi sinh, quốc tịch và thời gian lưu trú tại Anh trong cuốn sách Migrants in the UK Labour Market: An Overview (2016) – tạm dịch “Tổng quan về người di trú tại thị trường lao động Anh”.
* Về khái niệm quản lý lao động nước ngoài
Trước khi trình bày khái niệm “QLLĐNN” cụ thể, tác giả Phan Huy Đường nêu khái niệm “quản lý lao động” dưới góc độ là sự quản lý của Nhà nước về lao động như sau: Quản lý Nhà nước về lao động là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của bộ máy nhà nước lên đối tượng bị quản lý trong việc đảm bảo cung ứng, tổ chức, sử dụng lao động và các vấn đề liên quan khác về lao động nhằm đạt được mục tiêu đề ra một cách công bằng, ổn định và hiệu quả trong cuốn sách Quản lý Nhà nước về LĐNN chất lượng cao ở Việt Nam, 2012, Nxb. Chính trị Quốc gia. Tiếp đó, tác giả khẳng định “Quản lý nhà nước về LĐNN chất lượng cao là việc nhà nước xác định mục tiêu và bằng pháp quyền tác động có tổ chức lên các quan hệ và hoạt động của LĐNN nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả nhất nguồn lao động này, nhằm đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội chung của đất nước đã đặt ra.
Nếu tác giả Phan Huy Đường phân tích QLLĐNN dưới góc độ quản lý Nhà nước, tác giả Đỗ Thị Dung nhìn nhận vấn đề quản lý đối tượng lao động này qua việc quản lý của NSDLĐ trong Luận án Tiến sĩ Luật học “Pháp luật về quyền quản lý lao động của NSDLĐ ở Việt Nam”, 2014, Trường Đại học Luật Hà Nội. Luận án nghiên cứu về quyền QLLĐ của NSDLĐ, đặc biệt ở Chương 2 của luận án, tác giả phân tích său sắc khái niệm “quản lý lao động” dưới nhiều góc độ khác nhau dựa trên những quy định của công ước quốc tế và đưa ra khái niệm “quyền quản lý của NSDLĐ” là quyền của NSDLĐ đối với NLĐ trong đơn vị sử dụng lao động, trên cơ sở thiết lập công cụ QLLĐ và tổ chức, thực hiện QLLĐ theo quy định của pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả lao động.
Tác giả Johnkinamugire có hướng nhìn song phương về việc QLLĐNN dưới góc độ quản lý nhà nước và quản lý của NSDLĐ trong cuốn sách The concept of Mangerial prerorative in South African Labor Law năm 2009 – tạm dịch “Quan niệm về đặc quyền quản lý trong Luật Lao động Nam Phi”. Về quản lý Nhà nước đối với LĐNN, tác giả phân tích các tiêu chuẩn đặc thù mà Nhà nước quy định đối với LĐNN trong quá trình tuyển dụng, giao kết HĐLĐ. Về quản lý của NSDLĐ đối với LĐNN, NSDLĐ quản lý NLĐ bằng cách chi phối, điều hành LĐNN thông qua các điều khoản đã ký kết trong HĐLĐ như: địa điểm làm việc, thời gian làm việc, tiền lương…
1.1.1.2. Về nội dung pháp luật quản lý lao động nước ngoài
* Về quy định tuyển dụng lao động nước ngoài
Đa số các quốc gia đều có quy định pháp luật riêng về tuyển dụng người LĐNN, khác với tuyển dụng lao động trong nước.
Ở châu Âu, người LĐNN mang quốc tịch của một trong 27 quốc gia châu Âu và có phần lớn lợi thế hơn so với NLĐ quốc tịch ngoại khối châu Âu. Ấn phẩm Foreign workers in the labour market in the Czech Republic and in selected European countries, – tạm dịch “Lao động nước ngoài tại thị trường lao động của Cộng hòa Séc và một số các quốc gia châu Âu” của Tổ chức Di cư và Nhập cư, Tổ chức Trợ giúp người tị nạn và Trung tâm đa văn hóa Cộng hòa Séc đã phân tích những hạn chế một phần của người không có quốc tịch châu Âu khi tham gia thị trường lao động tại một số các quốc gia châu Âu như Séc, Đức, Anh và Áo thông qua việc so sánh những quyền lợi mà công dân có quốc tịch châu Âu được hưởng khi cùng tham gia thị trường lao động. Việc cấp GPLĐ luôn song hành cùng giấy phép lưu trú, đối tượng được miễn GPLĐ cũng là người có giấy phép lưu trú không thời hạn tại Séc. Séc cũng đưa ra mô hình gộp GPLĐ và giấy phép cư trú thành Thẻ làm việc với thời hạn lao động từ 3 tháng trở lên và Thẻ xanh đối với LĐNN chất lượng cao. Cuốn sách “Laws for legal immigration in the 27 EU member states” – tạm dịch “Pháp luật về vấn đề nhập cư hợp pháp tại 27 quốc gia thành viên EU” so sánh điều kiện tuyển dụng giữa hai loại đối tượng NLĐ. Những thuận lợi ở các giai đoạn xin cấp GPLĐ, thời gian thực hiện thủ tục, các yêu cầu khác về trình độ học vấn, kinh nghiệm làm việc, giấy tờ bổ sung khác…
Ở Mỹ, điều kiện nhập cư cũng như tuyển dụng đối với người nước ngoài rất khắt khe. Tác gia Jim V. Lopez đưa ra cái nhìn bao quát về việc nhập cư vào Mỹ để du lịch, làm việc và cư trú thông qua cuốn sách US Immigration Law, How to visit, work and live happily ever after 9/11 in America năm 2005 – tạm dịch “Luật Di trú Mỹ, Cách thức để du lịch, làm việc và sinh sống hạnh phúc tại Mỹ sau ngày 9/11”. Học giả người Philippines phân tích chi tiết từng loại hình thị thực cho từng đối tượng, trong 18 chương thì đáng lưu ý là chương 8 về GPLĐ với những quy trình cụ thể của việc xin cấp giấy phép, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của NSDLĐ cũng như LĐNN. Theo đó, những điều kiện tiên quyết để xin cấp chứng nhận làm việc là: (1) Phải thông qua dịch vụ tuyển LĐNN bởi LĐNN trình độ cao không có sẵn tại Mỹ; (2) LĐNN sẽ nhận được tỷ lệ chi trả phổ biến tại nơi làm việc cố định. NSDLĐ có trách nhiệm chứng minh vị trí việc làm của LĐNN là cần thiết. Hai cuốn sách “US. Immigration” – tạm dịch “Chính sách nhập cư của Hoa Kỳ” của Council on Foreign Relations – Tổ chức Quan hệ đối ngoại và “America’s Advantage: A Handbook on Immigration and Economic Growth” – tạm dịch “Lợi thế của Mỹ: Cẩm nang về nhập cư và tăng trưởng kinh tế” phân tích toàn diện vấn đề nhập cư tại Mỹ. Qua việc tổng quan tình hình nhập cư vào Mỹ trong khoảng thời gian nhất định, ấn phẩm phân tích những tác động tích cực của lao động di trú đối với sự tăng trưởng nền kinh tế Hoa Kỳ, đồng thời những thách thức mà Mỹ phải đối diện với vấn đề nhập cư.
Cuốn sách cũng phân tích những hạn chế của pháp luật Mỹ về QLLĐNN. Qua đó, đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này như kiểm soát khu vực biên giới để hạn chế lao động bất hợp pháp, thay đổi hệ thống kiểm soát nhập cư…
Ấn phẩm Migration for Employment: Bilateral Agreements at a Crossroads, năm 2014 – tạm dịch “Di trú vì việc làm: Các thỏa thuận song phương đang ở ngã tư đường” được xuất bản bởi OECD – Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế và Federal Office of Immigration, Integration and Emigration Phòng Nhập cư, Hội nhập và Di cư liên bang bao gồm phụ lục được ký bởi các quốc gia trong OECD, quy định từng cơ chế tuyển dụng đối với từng loại hình công việc như: lao động thời vụ, lao động có HĐLĐ, lao động giúp việc gia đình, nhà chuyên gia…
* Về quy định hợp đồng lao động đối với lao động nước ngoài
Nội dung của chế định về HĐLĐ đối với người LĐNN bao gồm nhiều thành tố như: chủ thể HĐLĐ, các điều khoản về giao kết hợp đồng, chấm dứt hợp đồng, đóng bảo hiểm xã hội cho người LĐNN… Malaysia được đưa làm khuôn mẫu cho việc quy định bảo hiểm xã hội cho người LĐNN làm việc tai nước này thông qua bài tạp chí “Một số nội dung về bảo hiểm xã hội của người lao động nước ngoài làm việc tại Malaysia” của TS. Phạm Đỗ Nhật Tân, Tạp chí Lao động và xã hội, số 534/2016. Theo quy định của Luật Bồi thường lao động Malaysia năm 1952, mọi LĐNN đều phải tham gia hai loại bảo hiểm: bảo hiểm y tế bắt buộc và bảo hiểm tai nạn lao động. Đây là nghĩa vụ bắt buộc của NSDLĐ đối với LĐNN làm việc cho mình tại Malaysia.
Các điều khoản về nghĩa vụ của chủ thể trong HĐLĐ, sa thải, đơn phương chấm dứt HĐLĐ được tập trung phân tích sâu sắc thông qua cách phân tích tình huống thực tế của một số các nghiên cứu như cuốn sách Labour& Employment Law năm 2008 tạm dịch “Lao động và Luật Việc làm” của Patrick, J Cihon, James Ottavio, Castagnera, International Business Law – tạm dịch “Luật Kinh doanh quốc tế” của Ray A.August, Don Mayer, Michel Bixby và cuốn sách Text and Cases – tạm dịch “Văn bản và các vụ việc” của David P.Twomey năm 2009. Các nghiên cứu trên đều đề cập đến nội dung cơ bản về tuyển dụng LĐNN, giao kết, thực hiện và chấm dứt HĐLĐ, quyền và nghĩa vụ của các bên trong HĐLĐ thông qua các văn bản và án lệ để có thể thấy sự khác nhau trong chủ thể của HĐLĐ là LĐNN và lao động trong nước. Cũng xuất phát từ phân tích các tình huống thực tế, tác giả Maria-Agnès Sabirau-Pérez tập trung đánh giá các bản án lệ của tòa án Pháp và của một số các nước khác trong khu vực châu Âu như Đức, Bỉ trong bài báo “Changes of the law applicable to an international contract of employment” – tạm dịch “Sự thay đổi luật áp dụng trong hợp đồng lao động quốc tế” năm 2000 trên tạp chí International Labour Review, khi có sự thay đổi luật áp dụng trong HĐLĐ có yếu tố nước ngoài. Điều đó có nghĩa bên cạnh việc áp dụng pháp luật ban đầu đã được thỏa thuận trong HĐLĐ thì áp dụng luật của quốc gia khác trong thời giạn có hiệu lực của HĐLĐ có yếu tố nước ngoài.
Vấn đề giải quyết tranh chấp giữa NSDLĐ và người LĐNN được phân tích cụ thể tại cuốn sách Labor contracts and labor relations in early modern central Japan – tạm dịch “Hợp đồng lao động và quan hệ lao động ở trung tâm Nhật Bản thời kỳ hiện đại sớm” của Mary Louise Nagata, Routledge Curzon năm 2005. Bên cạnh những điều khoản chung về giải quyết khi có tranh chấp lao động thì ấn phẩm cũng đưa ra các điều khoản riêng đối với đối tượng lao động này. Một vấn đề quan trong trong việc giải quyết các tranh chấp lao động giữa các chủ thể trong QHLĐ là nguồn pháp luật áp dụng. Cuốn sách International conflicts of labour law: A survey of the law applicable to the international employment relation năm 1984 – tạm dịch “Xung đột quốc tế của luật lao động: Cuộc khảo sát về việc áp dụng pháp luật trong quan hệ lao động quốc tế” của Morgenstern Felice phân tích QHLĐ có yếu tố nước ngoài, cụ thể là mối quan hệ giữa NSDLĐ và LĐNN. Tác phẩm xác định nguồn pháp luật điều chỉnh mối QHLĐ này cùng các nguyên tắc điều chỉnh. Qua đó, các chủ thể của HĐLĐ đối với người LĐNN được tự do lựa chọn nguồn luật áp dụng và bị hạn chế một phần tự do ý chí trong HĐLĐ nhằm mục đích bảo vệ người LĐNN. Bên cạnh việc xác định nguồn luật áp dụng, Grušić Uglješa phân tích thẩm quyền của tòa án để giải quyết các tranh chấp lao động có yếu tố nước ngoài tại cuốn sách The European Private International Law of Employment – tạm dịch “Luật Tư pháp quốc tế châu Âu về Việc làm”.
* Về quy định thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong hoạt động quản lý lao động nước ngoài
Thanh tra lao động là một tổ chức quan trọng trong bộ máy quản lý Nhà nước về lao động, nhằm mục đích phát hiện các vi phạm trong lĩnh vực lao động để kịp thời áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm. Một số vấn đề lý luận về thanh tra lao động như khái niệm, vai trò, đặc điểm và nguyên tắc hoạt động của thanh tra lao động được hai tác giả Phạm Thị Hiền và Hoàng Thu Hằng phân tích trong hai Luận văn Thạc sĩ Thực hiện pháp luật về thanh tra trong lĩnh vực lao động (qua thực tiễn tỉnh Quảng Ninh)”, 2015, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội và Xử phạt vi phạm pháp luật lao động – hậu quả pháp lý của nó, 2014, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội. Bàn về vấn đề hoạt động của thanh tra lao động, các luận văn giới thiệu và phân tích các hình thức thực hiện bao gồm thanh tra theo kế hoạch và thanh tra đột xuất. Thanh tra đột xuất thường phát sinh khi được thông báo trường hợp vi phạm tại doanh nghiệp hoặc trong một số các trường hợp cần thiết khác. Tương tự như đối tượng lao động trong nước, hoạt động QLLĐNN cũng áp dụng các hình thức thanh tra lao động nói chung.
Hoạt động thanh tra luôn là vấn đề trọng tâm được chú ý trong nội dung về thanh tra lao động. LĐNN là đối tượng đặc thù nên nhìn nhận về góc cạnh nào đó, vẫn có quy định riêng như tần suất thanh tra lao động và báo cáo về tình trạng NLĐ bị lạm dụng tại báo cáo Protecting migrant workers from exploitation in the EU: boosting workplace inspections – tạm dịch “Bảo vệ lao động di cư khỏi vấn đề lạm dụng tại châu Âu: tăng cường thanh tra lao động tại nơi làm việc” của European Union Agency for fundamental rights 2018. Ở châu Á, hình thức thanh tra lao động được phân tích khá sâu sắc thông qua việc so sánh mô hình QLLĐNN tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Singapore trong cuốn sách “Labour migration in Asia: building effective institutions”– tạm dịch “Nhập cư tại Châu Á: xây dựng những thiết chế hiệu quả” năm 2016, của ba tổ chức Tổ chức lao động thế giới (ILO), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADBI), Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (Organisation for Economic Co- operation and Development – OECD). Trong các quốc gia trên, Singapore là nước chú trọng giai đoạn kiểm tra hoạt động sử dụng LĐNN tại các doanh nghiệp bằng nhiều hình thức, chủ yếu thông qua thanh tra lao động. Còn hai nước Nhật Bản và Hàn Quốc xây dựng hệ thống thanh tra LĐNN tuy nhiên lựa chọn quản lý đối tượng lao động này ngay từ công tác tuyển dụng.
Xử lý vi phạm trong lĩnh vực lao động bao gồm xử phạt hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các cá nhân vi phạm bao gồm cả NSDLĐ và NLĐ. Tuy nhiên với đối tượng là người LĐNN thì áp dụng thêm chế tài trục xuất. Các hình thức xử phạt vi phạm đối với hoạt động QLLĐNN được tác giả Nguyễn Trà My phân tích cụ thể trong Luận văn Thạc sĩ “Thực trạng lao động Trung Quốc tại Việt Nam và một số kiến nghị”, 2013, trường Đại học Luật Hà Nội, và tác giả Đào Thị Lệ Thu trong Luận văn Thạc sĩ “Pháp luật về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp”, 2012, trường Đại học Luật Hà Nội. Chế tài xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm bao gồm nhiều mức tiền phạt tùy thuộc vào mức độ vi phạm và số lần vi phạm. Theo pháp luật Việt Nam, mức tiền phạt cao nhất là 30.000.000 đồng; còn Malaysia là 45.000 MYR. Hình phạt này thường được áp dụng cho NSDLĐ vi phạm pháp luật trong hoạt động QLLĐNN. Đối với LĐNN, mức độ xử lý vi phạm hành chính cao nhất là trục xuất ra khỏi nước sở tại mà LĐNN đang làm việc. Nếu NSDLĐ, LĐNN và các cá nhân khác có hành vi vi phạm trong hoạt động QLLĐNN ở mức độ nghiêm trọng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Singapore là quốc gia có khung pháp luật xử lý nghiêm minh các vi phạm trong lĩnh vực này khi quy định cụ thể các trường hợp nào trong hoạt động QLLĐNN (không có GPLĐ, làm giả GPLĐ…) bị coi là tội phạm. Bên cạnh các hình phạt tiền, phạt tù, còn có hình phạt roi theo tác giả Bùi Thanh Tùng phân tích trong Luận văn Thạc sĩ “Chính sách quản lý lao động nước ngoài của Singapore và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, 2012, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội.
Không chỉ châu Á, châu Âu cũng đón nhận lượng người LĐNN đông đảo di trú tới làm việc dưới nhiều hình thức phức tạp. Vì thế, việc vi phạm thường xảy ra phổ biến tại các quốc gia châu Âu. Điều đó đòi hỏi EU phải có một hệ thống pháp luật chặt chẽ nhằm hạn chế tình trạng trên. EU to propose penalties against employers of illegal immigrants – tạm dịch “EU đề xuất hình phạt đối với người sử dụng lao động của lao động nhập cư bất hợp pháp”, nguồn https://www.eubusiness.com/topics/living-in-eu, nghiên cứu các biện pháp xử phạt vi phạm đối với LĐNN bất hợp pháp tại châu Âu, trong đó chú trọng tới các biện pháp xử phạt hành chính đối với LĐNN và NSDLĐ theo mức xử phạt cao tùy thuộc vào quy định pháp luật của từng quốc gia. Đồng thời áp dụng chế tài trục xuất LĐNN khỏi lãnh thổ và tùy từng quốc gia có thể cấm người LĐNN quay lại làm việc trong khoảng thời gian nhất định.
1.1.1.3. Về bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế tác động đến lao động nước ngoài
Từ việc phân tích khái niệm “di dân”, TS. Nguyễn Thị Lan Hương phân tích mối liên hệ giữa toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế và di chuyển lao động trong Đề tài cấp Nhà nước “Vấn đề lao động người nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế”, 2014, mã số KX.02.01/11-15 của Viện Khoa học lao động & xã hội – Bộ LĐ-TB&XH. Tác giả đưa ra những nguyên nhân và tác động của bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế dẫn đến việc NLĐ phải di cư sang nước khác nhằm tìm kiếm việc làm đồng thời cũng đưa ra những thách thức đối với nước tiếp nhận lao động, nước gửi lao động cũng như các doanh nghiệp sử dụng LĐNN trước tình hình này. Cũng nghiên cứu về vấn đề này, trong cuốn sách Di chuyển lao động quốc tế, Nxb. Khoa học và xã hội năm 2011, Nguyễn Bình Giang tập trung nghiên cứu, đánh giá một số nét trong di chuyển lao động quốc tế như: những xu hướng cơ bản của di chuyển lao động quốc tế (bao gồm cả lao động phổ thông và lao động chuyên môn cao), các chính sách quốc gia điều tiết di chuyển lao động quốc tế, những tác động tích cực và tiêu cực của di chuyển quốc tế tới nước nhập khẩu và nước xuất khẩu lao động trong 10 năm đầu thế kỷ XXI đồng thời cũng phân tích những bất cập trong công nhận lao động giữa các quốc gia để làm cơ sở tuyển dụng LĐNN. Bàn về xu hướng dịch chuyển lao động quốc tế, tác giả Bùi Thanh Tùng đồng tình với hai xu hướng là di chuyển lao động từ các nước đang phát triển và di chuyển lao động chuyên môn cao quốc tế trong Luận văn Thạc sĩ kinh tế chính trị Chính sách quản lý LĐNN của Singapore và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, 2012, Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội. Đa số các tác giả đều đề cập đến hai dòng dịch chuyển lao động quốc tế và những tác động hai chiều của LĐNN đối với quốc gia tiếp nhận lao động.
Nghiên cứu về vấn đề di chuyển lao động trong khối ASEAN, các tác giả đánh giá mức độ tác động của hội nhập quốc tế trong khu vực tới thị trường lao động, đặc biệt là việc thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC trong Bài tạp chí Free Flow of skilled labor in the AEC – tạm dịch “Dòng chảy tự do của lao động chất lượng cao trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN” của Yue C.S đăng trên tạp chí Singapore Institute of International Affairs năm 2011; ASEAN Economic Community: What model for labor mobility – tạm dịch “Cộng đồng Kinh tế ASEAN: Di chuyển lao động theo mô hình nào” của Jurie và Lavenex năm 2015; Moving freely? Labor mobility in ASEAN – tạm dịch “Di chuyển tự do? Sự di chuyển lao động trong ASEAN” của Huelser và Heal trên Tạp chí Asia – Pacific research and training on trade policy brief, số 40. Trong đó, tác giả phân tích xu hướng biến đổi trong nền kinh tế cũng như trong thị trường của các quốc gia khối ASEAN, nhằm đưa ra khuyến nghị để xây dựng chính sách kinh tế phù hợp tác động tới thị trường lao động thông qua việc hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN như gia tăng thu nhập, tạo việc làm cho NLĐ, thúc đẩy phát triển kinh tế… Cũng đánh giá tác động của quá trình hội nhập nhập quốc tế trong khu vực, tác giả Plummer M., Petri P và Zhai F tóm tắt dự báo các kết quả tác động của Hiệp định thương mại tự do (FTAs) tác động đến tiền lương và thu nhập của NLĐ trong cộng đồng ASEAN tại báo cáo Assessing the impact of ASEAN economic intergration on labour market – tạm dịch “Đánh giá tác động của hội nhập kinh tế ASEAN đến thị trường lao động” năm 2014 của Tổ chức Lao động quốc tế.
Đánh giá dưới góc nhìn tích cực mà người LĐNN mang đến cho nước sở tại trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, tác giả Abella, M.I. đưa ra các giải pháp khuyến khích LĐNN ở lại nước sở tại để làm việc để tăng trưởng kinh tế cho quốc gia tiếp nhận lao động. Đồng thời cũng đưa ra những lựa chọn cho các nước gửi LĐNN trong bối cảnh hội nhập quốc tế trong cuốn sách Policy and institution for the orderly movement of labour abroad – tạm dịch “Chính sách và thể chế cho việc di chuyển có trật tự của lao động ra ngước ngoài” năm 1995.
1.1.1.4. Về thực trạng quy định về tuyển dụng lao động nước ngoài tại Việt Nam
Thực trạng lao động nhập cư vào làm việc tại Việt Nam không được cấp giấy phép chủ yếu là lao động phổ thông và tác động tiêu cực đến thị trường lao động Việt Nam, ảnh hưởng đến nguồn việc làm của lao động trong nước, làm những công việc mà lao động Việt Nam có thể thực hiện được. Đây là vấn đề nóng nhất được các giới chức trách quan tâm và thực trạng này được nhiều các tác giả phân tích như PGS.TS. Trần Thị Thúy Lâm trong bài viết “Lao động nhập cư ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp”, tại Hội thảo quốc tế Quan hệ lao động trong xu thế toàn cầu hóa và vai trò của công đoàn năm 2011; Tống Thị Phương Thảo trong Luận văn Thạc sĩ “Pháp luật về người lao động nước ngoài làm việc trong các doanh nghiệp tại Việt Nam”, 2018, tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội cùng với những số liệu được thống kê cụ thể về số lượng người LĐNN tại những tỉnh có số lượng lớn người LĐNN làm việc. Để có thể thực hiện việc đưa các lao động phổ thông vào Việt Nam làm việc, các nhà thầu/NSDLĐ đã có sự gian lận trong quy trình tuyển dụng khi sử dụng các giấy tờ chứng minh trình độ năng lực của người LĐNN theo sự phân tích của ThS. Nguyễn Thị Thu Hương và ThS. Nguyễn Thị Bích Thủy trong bài tạp chí “Thực trạng sử dụng lao động nước ngoài trong các doanh nghiệp” đăng trên Tạp chí Lao động và xã hội, số 462/2013 và của tác giả Cao Nhất Linh qua các bài viết: “Lao động nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập”, đăng trên Tạp chí Lao động và xã hội, số 312/2007; “Về giấy phép lao động cho người nước ngoài tại Việt Nam” trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 7/2007; “Một số điểm mới trong việc tuyển dụng và quản lý lao động nước ngoài” trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 6/2008.
Tác giả Phan Thị Thanh Huyền trong bài viết “Đề xuất giải pháp quản lý và sử dụng lao động nước ngoài tại Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp; số 23/2011 phân tích một số vướng mắc trong các quy định của pháp luật dẫn đến tình trạng khó thực hiện pháp luật như yêu cầu về đăng báo nhu cầu tuyển dụng của NSDLĐ. Tuy nhiên, có rất nhiều hình thức để thể hiện nhu cầu tuyển thì việc quy định tuyển dụng LĐNN chỉ qua kênh đăng quảng cáo tuyển dụng trên báo chí gây khó khăn cho quá trình tuyển dụng LĐNN. Quy định về cấp lại GPLĐ chỉ áp dụng dụng đối với giấy phép bị hỏng hoặc mất còn trường hợp có sự thay đổi về nội dung trên giấy phép lại không có quy định pháp luật điều chỉnh. Theo thống kê, TS. Lưu Bình Nhưỡng trong bài viết “Một số vấn đề pháp lý về người nước ngoài làm việc tại Việt Nam” đăng trên Tạp chí Luật học, số 9/2009 đưa ra thực trạng các quy định về tuyển LĐNN vào làm việc tại Việt Nam và số lượng LĐNN được cấp GPLĐ thấp hơn quá một nửa so với thực tế. Như vậy, lao động phổ thông làm việc bất hợp pháp (không có GPLÐ) xảy ra phổ biến tại Việt Nam và là một tình trạng phức tạp yêu cầu sự quản lý khắt khe từ các nhà chức trách, cơ quan có thẩm quyền
Trong Đề tài NCKH cấp Bộ “Quản lý Nhà nước về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế – Thực trạng và giải pháp” của Viện Nghiên cứu Lập pháp năm 2018, tác giả Nguyễn Thạch Toàn phân tích sâu sắc thực trạng cấp, cấp lại, gia hạn GPLĐ đối với người LĐNN. Tác giả nhận định đây là một phần nội dung quan trọng trong quá trình tuyển dụng LĐNN làm việc tại Việt Nam, tuy nhiên, thực tế hiện nay các doanh nghiệp chưa thực hiện đúng theo thủ tục hoặc tìm cách “lách luật” để hợp thức hóa đối với đối tượng LĐNN phổ thông. Thông qua số liệu thống kê trên tại từng địa phương nói riêng và trên cả nước nói chung, tác giả cũng đánh giá mức độ phức tạp của các văn bản pháp luật về xác định sự hợp lý trong GPLĐ và HĐLĐ. Theo quy định, GPLĐ đối với người LĐNN tối đa là 02 năm, như vậy người LĐNN chỉ được ký tối đa 02 hợp đồng xác định thời hạn và không được ký hợp đồng không xác định thời hạn. Và nếu muốn ký tiếp HĐLĐ, người LĐNN buộc phải xuất cảnh khỏi Việt Nam và nhập cảnh lại để tiếp tục công việc. Điều đó ảnh hưởng tới quyền được làm việc cũng như làm gián đoạn quá trình công tác, năng suất lao động của người LĐNN.
1.1.1.5. Về thực trạng quy định về hợp đồng lao động đối với lao động nước ngoài tại Việt Nam
HĐLĐ là một chế định quan trọng trong nội dung của pháp luật QLLĐNN. Bởi đây là sự xác lập QHLĐ giữa NSDLĐ và người LĐNN, thông qua HĐLĐ, Nhà nước thể hiện sự quản lý đối tượng lao động đặc thù này khác với lao động Việt Nam. Tác giả Nguyễn Thu Ba nghiên cứu khá sâu về HĐLĐ đối với người LĐNN dưới góc độ QHLĐ thiết lập giữa hai chủ thể là NSDLĐ và người LĐNN trong các công trình nghiên cứu: Luận án Tiến sĩ “Hợp đồng lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam”, 2017, Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; bài viết “Người lao động nước ngoài và đặc trưng của hợp đồng lao động với người lao động nước ngoài” đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 6/2016. Sự khác biệt rõ nhất trong HĐLĐ giữa LĐNN và lao động Việt Nam được tác giả lựa chọn là giao kết, thực hiện, chấm dứt HĐLĐ. Về nội dung của HĐLĐ đối với người LĐNN, tác giả tập trung phân tích thông tin về chủ thể giao kết; công việc và địa điểm làm việc; thời hạn hợp đồng; tiền lương; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; trang bị bảo hộ cho NLĐ; chế độ bảo hiểm xã hội; đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề. Ngoài những nội dung chính trên, hình thức và ngôn ngữ hợp đồng, hiệu lực của hợp đồng, hợp đồng vô hiệu… cũng được tác giả đề cập và đánh giá sơ bộ.
Nội dung khác của HĐLĐ đối với người LĐNN mà hai bên thỏa thuận là bảo hiểm xã hội cho LĐNN. Bàn về vấn đề này, tác giả Trần Thúy Hằng trong bài viết “Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về lao động nước ngoài tại Việt Nam phù hợp với Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên” đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, số 14/2012 và tác giả Cao Nhất Linh trong bài viết “Bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động nước ngoài tại Việt Nam” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 5/2009 phân tích thực trạng các quy định về bảo hiểm xã hội theo pháp luật Việt Nam không cho phép người LĐNN tham gia và pháp luật công đoàn không ghi nhận quyền thành lập và tham gia công đoàn của người LĐNN tại Việt Nam. Điều này đã hạn chế quyền của người LĐNN khi làm việc tại Việt Nam, đặc biệt khi Việt Nam đang trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, tham gia các công ước để bảo vệ quyền của lao động di trú.
Nghiên cứu về HĐLĐ đối với người LĐNN dưới góc độ thực tiễn, tác giả Đặng Vũ Huân đã đưa ra một vụ việc điển hình về việc tranh chấp HĐLĐ giữa Trường Anh ngữ thực hành và ông Kleven người Mỹ trong bài tạp chí “Về một vụ tranh chấp lao động: nhận định một đàng, phán quyết một nẻo” đăng trên Tạp chí Lao động và xã hội số 407/2011. HĐLĐ được ký giữa trường và ông Kleven bị tòa tuyên là không hợp pháp bởi đại diện đơn vị sử dụng lao động (đại diện trường Anh ngữ thực hành) đã không đăng ký HĐLĐ tại Cơ quan QLLĐ nên hợp đồng vô hiệu mặc dù chủ thể của HĐLĐ là ông Kleven là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Do đó, vụ việc trên chỉ được tòa xem xét về hậu quả hợp đồng.
1.1.1.6. Về thực trạng quy định về thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong hoạt động quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam
Thanh tra lao động là một nội dung quan trọng được điều chỉnh của pháp luật lao động, nhằm tìm kiếm và phát hiện các sai phạm trong hoạt động QLLĐNN làm việc tại Việt Nam của các doanh nghiệp.
Tác giả Vũ Minh Tiến trong Luận án Tiến sĩ Luật học “Quản lý nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam”, 2011, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội đánh giá thực trạng thanh tra, kiểm tra, giám sát trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay về các vấn đề cụ thể như: nội dung thỏa ước lao động tập thể phù hợp với pháp luật; những điều khoản trái pháp luật trong HĐLĐ với NLĐ; kiểm tra việc thực hiện chế độ tiền lương, bảo hiểm lao động; bảo hiểm xã hội, an toàn lao động, vệ sinh lao động… Tuy nhiên đây vẫn là khâu yếu nhất trong việc quản lý Nhà nước về lao động bởi nhiều nguyên nhân chủ quan như năng lực cán bộ thanh tra chưa cao, số lượng cán bộ thanh tra chưa đáp ứng được việc kiểm tra để phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật của doanh nghiệp, nguyên nhân khách quan từ phía NSDLĐ cố tình vi phạm nhưng không sửa chữa bởi số tiền phạt chưa cao và phát hiện hành vi vi phạm chậm trễ. Một số các công trình nghiên cứu về tình hình thanh tra lao động nói chung cũng phản ánh rõ nét thực trạng công tác thanh tra lao động đang gặp nhiều khó khăn trong việc triển khai thực hiện do nhiều nguyên nhân như: Luận án tiến sĩ Luật học “Hoàn thiện pháp luật thanh tra trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn Thị Thương Huyền năm 2009; Luận văn thạc sĩ Luật học “Tổ chức và hoạt động của Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội, thực trạng và giải pháp” của Nguyễn Thị Hồng Diệp năm 2009; Đề tài cấp Bộ của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội “Các điều kiện và giải pháp để chuyển phương thức thanh tra theo đoàn sang Thanh tra viên phụ trách vùng” do tác giả TS. Bùi Sỹ Lợi chủ nhiệm năm 2003.
Mặc dù không đề cập đến đối tương là người LĐNN nhưng Cuốn sách “Quy trình và phương pháp tiến hành một cuộc thanh tra chính sách lao động” do tác giả Nguyễn Xuân Bân chủ biên năm 2000, Nxb. Lao động – Xã hội, Hà Nội phân tích sâu sắc trình tự, thủ tục của thanh tra trong lĩnh vực lao động nói chung. Về cơ bản, thanh tra lao động người LĐNN cũng là đội ngũ thanh tra lao động nhà nước, các thủ tục cũng gần tương đồng với đối tượng là lao động Việt Nam. Vì thế, việc nghiên cứu hoạt động của thanh tra lao động có ý nghĩa rất quan trọng, nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm để khắc phục thiếu sót trong đội ngũ thanh tra lao động đối tượng đặc thù là LĐNN. Bên cạnh đó, tác giả Cao Văn Sâm và Ngô Vân Hoài phân tích, đánh giá sâu sắc hoạt động thanh tra LĐNN tại Việt Nam chưa đạt được hiệu quả cao trên các khía cạnh về thẩm quyền, chức năng, tần suất thanh tra của các cán bộ thanh tra viên trong bài viết “Vấn đề thanh kiểm tra lao động nước ngoài ở Việt Nam” đăng trên Tạp chí Khoa học Lao động và xã hội, số 35, quý III năm 2013.
Xử lý vi phạm trong lĩnh vực lao động hiện nay có ba hình thức chính: xử lý vi phạm hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự và buộc bồi thường thiệt hại. Đối tượng của hoạt động QLLĐNN làm việc tại Việt Nam là lao động đặc thù nên trong ba hình thức xử lý vi phạm chính trên, cũng áp dụng các hình phạt đặc biệt dành cho đối tượng này. Theo đó, xử lý vi phạm hành chính ngoài hình thức phạt tiền giống như lao động trong nước, người LĐNN sẽ bị áp dụng hình phạt trục xuất khỏi Việt Nam trong những trường hợp cần thiết. Ngoài ra, người LĐNN phải chịu những hình thức xử phạt vi phạm khác như hạn chế đi lại, bắt buộc lưu trú tại cơ sở lưu trú nhất định… Các vấn đề này được tác giả Trịnh Thị Hoàng Anh phân tích sâu sắc trong Luận văn Thạc sĩ Luật học “Vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam”, 2015, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vi phạm đối với hoạt động QLLĐNN làm việc tại Việt Nam được thực hiện bởi hai chủ thể: NSDLĐ và người LĐNN. Nhìn nhận dưới góc độ đó, tác giả Tống Thị Phương Thảo phân tích các quy định về xử phạt đối với cả hai chủ thể của QHLĐ trong Luận văn Thạc sĩ Luật học “Pháp luật về người lao động nước ngoài làm việc trong các doanh nghiệp tại Việt Nam”, 2018, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội. Theo ý kiến của tác giả, Việt Nam có khá nhiều các trường hợp vi phạm pháp luật lao động trong việc sử dụng người LĐNN. Tuy nhiên, các hình thức và biện pháp xử lý đối với người LĐNN và NSDLĐ vi phạm chưa được quy định cụ thể và phù hợp với thực tế, chưa mang tính răn đe phòng ngừa các hành vi vi phạm trong việc QLLĐNN làm việc tại Việt Nam.
Có thể nói vi phạm trong giai đoạn tuyển dụng LĐNN là hành vi vi phạm pháp luật xảy ra nhiều nhất trong quá trình QLLĐNN làm việc tại Việt Nam.
Nghiên cứu về vấn đề này, tác giả Đào Thị Lệ Thu trong Luận văn Thạc sĩ Luật học “Pháp luật về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện”, 2012, trường Đại học Luật Hà Nội và tác giả Trần Thu Hiền trong Luận văn Thạc sĩ Luật học “Pháp luật về sử dụng lao động nước ngoài tại Việt Nam”, 2011, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội đề cập đến xử lý vi phạm trong việc quản lý, tuyển dụng LĐNN bằng hình thức xử lý hành chính đối với các hành vi vi phạm (phạt tiền và trục xuất) và truy cứu trách nhiệm hình sự. Tác giả Nguyễn Trà My nghiên cứu chuyên sâu đối tượng LĐNN là người Trung Quốc làm việc tại Việt Nam trong Luận văn Thạc sĩ Luật học “Thực trạng lao động Trung Quốc tại Việt Nam và một số kiến nghị”, 2013, trường Đại học Luật Hà Nội. Tác giả phân tích sâu sắc tình hình lao động Trung Quốc tại Việt Nam, những đặc điểm riêng của lao động có quốc tịch này. Dù là công dân Trung Quốc nhưng vẫn thuộc đối tượng là LĐNN tại Việt Nam nên vẫn áp dụng các hình thức xử lý vi phạm theo quy định pháp luật. Trên thực tế, vì số lượng NLĐ Trung Quốc làm việc ở Việt Nam khá đông nên công tác quản lý và xử lý vi phạm pháp luật đối tượng này được Nhà nước chú trọng và phát hiện được vụ việc vi phạm trong suốt quá trình lao động Trung Quốc làm việc tại Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu tập trung phân tích các hình thức xử lý vi phạm với đối tượng là người LĐNN nhưng chưa có nhiều công trình hoặc có nhưng phân tích chưa sâu sắc về thực trạng xử lý vi phạm các doanh nghiệp/NSDLĐ có sử dụng người LĐNN tại Việt Nam.
1.1.1.7. Về một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam
* Về giải pháp về sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật về lao động nước ngoài
Đây là kiến nghị được đa số các nhà nghiên cứu đề cập đến trong công trình nghiên cứu của mình. Nếu tác giả Đào Thị Lệ Thu trong Luận văn Thạc sĩ Luật học “Thực trạng lao động Trung Quốc tại Việt Nam và một số kiến nghị”, 2013, trường Đại học Luật Hà Nội; tác giả Nguyễn Trà My trong Luận văn Thạc sĩ Luật học “Thực trạng lao động Trung Quốc tại Việt Nam và một số kiến nghị”, 2013, trường Đại học Luật Hà Nội; tác giả Trần Thu Hiền trong Luận văn Thạc sĩ Luật học “Pháp luật về sử dụng lao động nước ngoài tại Việt Nam”, 2011, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội tập trung chủ yếu kiến nghị công tác lập pháp như sử dụng thống nhất thuật ngữ “lao động nước ngoài”, thiết lập chặt chẽ quá trình tổ chức thực hiện công tác QLLĐNN liên quan đến các chủ thể trong QHLĐ cũng như của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì tác giả Nguyễn Thị Lan Hương nêu những quan điểm, định hướng nhằm hoàn thiện pháp luật về QLLĐNN tại Việt Nam bên cạnh việc phân tích vấn đề lý luận và thực trạng LĐNN làm việc ở Việt Nam trong cuốn sách “Vấn đề lao động người nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế” năm 2014. Các kiến nghị đó là hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước đối với chính sách nhập cư, chính sách thị trường lao động, chính sách thương mại và chính sách đối với lao động bất hợp pháp. Một ý kiến khác về công tác xây dựng pháp luật là nghiên cứu, ban hành Luật về người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, trong đó quyền, trách nhiệm của NSDLĐ, người LĐNN và các cơ quan có liên quan được quy định cụ thể; chi tiết theo kiến nghị của tác giả Phan Huy Đường và Đỗ Thị Dung trong bài viết “Một số vấn đề đặt ra trong thực hiện các quy định pháp luật về lao động nước ngoài ở Việt Nam và hướng hoàn thiện” đăng trên Tạp chí Lao động và xã hội, số 16/2011. Bởi giống như người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài thì LĐNN làm việc tại Việt Nam cũng cần có luật riêng điều chỉnh để bao quát được tình hình, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Về GPLĐ, tác giả Phan Thị Thanh Huyền trong bài viết “Đề xuất giải pháp quản lý và sử dụng lao động nước ngoài tại Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 23/2011 kiến nghị sửa đổi một số vướng mắc trong các quy định của pháp luật dẫn đến tình trạng khó thực hiện pháp luật như yêu cầu về đăng báo nhu cầu tuyển dụng của NSDLĐ. Tuy nhiên, có rất nhiều hình thức để thể hiện nhu cầu tuyển dụng hay quy định về cấp lại GPLĐ. Bên cạnh đó, ThS. Nguyễn Thị Thu Hương và ThS. Nguyễn Thị Bích Thủy trong bài tạp chí “Thực trạng sử dụng lao động nước ngoài trong các doanh nghiệp”, Tạp chí Lao động và xã hội, số 462/2013 kiến nghị cần hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tuyển dụng, sử dụng LĐNN như chế độ cấp GPLĐ dưới 03 tháng, thị thực lao động đối với người LĐNN. Tác giả Nguyễn Hoàng Hà đề xuất trong bài viết “Quyền của người lao động nước ngoài trong các văn kiện pháp lý của tổ chức lao động quốc tế (ILO)” việc tuyển dụng lao động di cư phải được miễn phí nhưng cho phép các trường hợp ngoại lệ đối với một số hình thức lao động và loại hình dịch vụ cụ thể.
* Về giải pháp về nâng cao hiệu quả thực thi
Bên cạnh việc hoàn thiện xây dựng pháp luật về QLLĐNN làm việc tại Việt Nam, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật hết sức quan trọng. Một số tác giả đề xuất phương án tuyên truyền, thực hiện pháp luật và nâng cao ý thức nhận biết pháp luật của NLĐ. Tác giả Phan Thị Thanh Huyền trong bài viết “Đề xuất giải pháp quản lý và sử dụng lao động nước ngoài tại Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 23/2011; PGS. TS. Phan Huy Đường và ThS. Đỗ Thị Dung trong “Một số vấn đề đặt ra trong thực hiện các quy định pháp luật về lao động nước ngoài ở Việt Nam và hướng hoàn thiện”, Tạp chí Lao động và xã hội, số 16/2011 đề xuất đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật với các hình thức phong phú, phù hợp để cả hai chủ thể trong QHLĐ đều hiểu về quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình.
* Về giải pháp về sửa đổi pháp luật phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế Tiêu chuẩn quốc tế được lao động di cư quan tâm nhất hiện nay là quyền tự do hiệp hội (tham gia tổ chức Công đoàn) và vấn đề an sinh xã hội (bảo hiểm). Trong cuốn sách “Quyền của người nước ngoài” do PGS.TS. Nguyễn Thị Quế Anh, PGS.TS. Vũ Công Giao, TS. Ngô Minh Hương, TS. Lã Khánh Tùng đồng chủ biên xuất bản năm 2018, PGS. TS. Trương Hồ Hải thể hiện qua bài viết “Quyền lao động của người nước ngoài ở Việt Nam hiện nay” pháp luật về người LĐNN làm việc tại Việt Nam cần thường xuyên được rà soát, sửa đổi, bổ sung theo hướng tiệm cận gần hơn với các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế, tương thích với pháp luật các nước trong khu vực và trên thế giới; tăng cường vai trò của Công đoàn trong việc bảo bệ quyền của người LĐNN tại Việt Nam do đặc thù Công đoàn Việt Nam là một tổ chức chính trị – xã hội đóng vai trò quan trọng nên quyền gia nhập Công đoàn của người nước ngoài bị hạn chế. Tác giả Nguyễn Hoàng Hà đề xuất trong bài viết “Quyền của người lao động nước ngoài trong các văn kiện pháp lý của tổ chức lao động quốc tế (ILO)” về việc đảm bảo các tiêu chuẩn lao động quốc tế cụ thể liên quan đến lao động di trú như tiêu chuẩn lao động liên quan đến an sinh xã hội. PGS. TS. Lê Thị Hoài Thu cũng nhận định trong bài viết “Quyền của người lao động nước ngoài trong pháp luật lao động Việt Nam” cần xây dựng các điều kiện để ký kết các hiệp định khung với một số nước phải cử về chính sách bảo hiểm cho lao động di cư.
Đồng tình với quan điểm bảo về quyền của người LĐNN làm việc tại Việt Nam, tác giả Trần Thúy Hằng thể hiện trong bài viết “Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về lao động nước ngoài tại Việt Nam phù hợp với Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 14/2012 kiến nghị về quyền được hưởng bảo hiểm xã hội của LĐNN và ghi nhận quyền thành lập và tham gia công đoàn của người LĐNN để thể hiện quyền bình đẳng trước pháp luật của mọi NLĐ Việt Nam và LĐNN làm việc tại Việt Nam, cũng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thành viên theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.
Tác giả Trần Thúy Hằng đánh giá tính phù hợp của pháp luật Việt Nam về LĐNN trên cơ sở so sánh với Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia và đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về LĐNN để phù hợp với Điều ước quốc tế trong bài tạp chí “Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về lao động nước ngoài tại Việt Nam phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 14/2012 và trong Luận án Tiến sĩ Luật học “Pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động của người lao động nước ngoài tại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế”, 2018, trường Đại học Luật Hà Nội.
Tác giả Cao Nhất Linh trong bài tạp chí “Bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động nước ngoài tại Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 5/2009 kiến nghị người LĐNN cần được bảo vệ quyền tự do hiệp hội và cơ sở chứng minh cho sự cần thiết thừa nhận công đoàn của người LĐNN tại Việt Nam là sự xóa bỏ hạn ngạch số lượng người LĐNN trong một doanh nghiệp Việt Nam. Bên cạnh đó, pháp luật cần phải đề cập đến bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế của người LĐNN để phù hợp với các Công ước quốc tế về lao động mà Việt Nam đã gia nhập.
* Về giải pháp về tăng cường thanh tra, kiểm tra lao động nước ngoài
Đây được coi là giải pháp nòng cốt trong việc hoàn thiện pháp luật về QLLĐNN làm việc tại Việt Nam. Bởi hiện nay tình trạng lao động bất hợp pháp tồn tại phức tạp trong thị trường lao động Việt Nam. Tác giả Trần Thị Bích Nga trong bài tạp chí “Pháp luật về quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài của một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” trên Tạp chí Tòa án nhân dân, số 17/2017 đưa ra kiến nghị cần tăng cường hoạt động thanh tra; kiểm tra nhằm kịp thời phát hiện các trường hợp vi phạm. Đồng tình với quan điểm đó, ThS. Nguyễn Thị Thu Hương và ThS. Nguyễn Thị Bích Thủy trong bài tạp chí “Thực trạng sử dụng lao động nước ngoài trong các doanh nghiệp” đăng trên Tạp chí Lao động và xã hội, số 462/2013; tác giả Phan Thị Thanh Huyền trong bài viết “Đề xuất giải pháp quản lý và sử dụng lao động nước ngoài tại Việt Nam” trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 23/2011; tác giả Phan Huy Đường và Đỗ Thị Dung trong bài “Một số vấn đề đặt ra trong thực hiện các quy định pháp luật về lao động nước ngoài ở Việt Nam và hướng hoàn thiện” trên Tạp chí Lao động và xã hội, số 16/2011 đề xuất thêm chế độ báo cáo tình hình sử dụng người LĐNN, ngoài ra cần lập biên bản ghi rõ các vi phạm và cam kết thực hiện có thời hạn của đơn vị.
Tuy không đề cập trực tiếp đến đối tượng là LĐNN, tác giả Vũ Minh Tiến trong bài tạp chí “Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp” đăng trên Tạp chí Lao động và xã hội, số 390/2010 đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về lao động. Cụ thể, tăng cường hoạt động thanh tra và xử lý hành vi vi phạm quyền lợi NLĐ trong doanh nghiệp bằng cách đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra theo hướng kiện toàn bộ máy của thanh tra, thay đổi phương thức hoạt động của thanh tra.
Tác giả Phan Huy Đường – Đỗ Thị Dung đưa ra năm giải pháp cụ thể nhằm tăng cường công tác quản lý Nhà nước về LĐNN trong bài tạp chí “Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về lao động nước ngoài tại Việt Nam” đăng trên Tạp chí Lao động và xã hội, số 407/2011. Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh tới việc thanh tra kiểm tra LĐNN và giám sát thực hiện nghiêm chế độ báo cáo phục vụ cho việc hoạch định chính sách quản lý và điều tiết LĐNN tại Việt Nam.
* Về giải pháp về phối hợp giữa các ngành và Nhà nước với người sử dụng lao động
- Bùi Quang Sơn dựa trên việc phân tích thực trạng thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài cho phát triển kinh tế ở châu Á ở hai nước Singapore và Trung Quốc trong cuốn sách “Thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài cho phát triển kinh tế của một số nước châu Á và bài học cho Việt Nam” năm 2015, đồng thời cũng phân tích những điểm tương đồng và khác biệt trong chính sách thu hút lao động chuyên môn cao ở Việt Nam so với hai quốc gia này. Từ đó, tác giả gợi mở kinh nghiệm và khuyến nghị chính sách về thu hút LĐNN chuyên môn cao cho phát triển kinh tế ở Việt Nam đó là: kiểm soát dòng lao động nhập cư; có sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước và NSDLĐ để hạn chế tình trạng tiếp nhận lao động bất hợp pháp hoặc lao động kĩ năng thấp; có những chính sách phúc lợi xã hội tốt đối với LĐNN; nghiên cứu các quy chuẩn của hệ thống cấp thẻ việc làm đối với lao động chuyên môn cao nước ngoài để có thể áp dụng tại Việt Nam
Tác giả Phan Huy Đường và Đỗ Thị Dung trong bài viết “Một số vấn đề đặt ra trong thực hiện các quy định pháp luật về lao động nước ngoài ở Việt Nam và hướng hoàn thiện” đăng trên Tạp chí Lao động và xã hội, số 16/2011 kiến nghị sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành để QLLĐNN như Bộ LĐ- TB&XH, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư… trong công tác quản lý Nhà nước về LĐNN.
ThS. Nguyễn Thị Thu Hương và ThS. Nguyễn Thị Bích Thủy trong bài tạp chí “Thực trạng sử dụng lao động nước ngoài trong các doanh nghiệp” đăng trên Tạp chí Lao động và xã hội, số 462/2013; tác giả Phan Thị Thanh Huyền trong bài viết “Đề xuất giải pháp quản lý và sử dụng lao động nước ngoài tại Việt Nam” trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 23/2011 yêu cầu các ngành liên quan cần hợp tác đơn vị sử dụng LĐNN để phân loại lao động, đề nghị nhà thầu báo cáo kế hoạch sử dụng nhân lực.
1.1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu
1.1.2.1. Nhận xét tổng quát
Trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu các tài liệu liên quan đến QLLĐNN và pháp luật QLLĐNN, có thể nhận thấy những công trình nghiên cứu đến đề tài luận án khá phong phú, đa dạng và được tiếp cận dưới nhiều góc độ chuyên ngành. Các công trình nghiên cứu cung cấp lượng thông tin giá trị về kiến thức pháp luật QLLĐNN như khái niệm, vai trò, ý nghĩa… liên quan trực tiếp đến nội dung luận án. Tuy nhiên, các quan điểm nghiên cứu về pháp luật QLLĐNN khác nhau, đan xen giữa các mô hình quản lý tạo nên tính phức tạp và là trách nhiệm của luận án khi cần giải quyết các vấn đề.
1.1.2.2. Những kết quả trong nghiên cứu được kế thừa
Căn cứ tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề của luận án, có thể tiếp thu một số các nội dung sau:
Thứ nhất, về mặt lý luận QLLĐNN và pháp luật về QLLĐÐNN.
Các công trình nghiên cứu khoa học đưa ra nhận thức chung về QLLĐNN và QLLĐNN:
Về QLLĐNN: các công trình đều tiếp cận “lao động nước ngoài” dưới góc độ pháp luật quốc tế và phân tích các quy định pháp luật Việt Nam dưới những khái niệm tương đồng như: NLĐ và người nước ngoài. Ngoài ra, các công trình phân tích các yếu tố tác động của người LĐNN đối với quốc gia tiếp nhận lao động. Cũng trên phương diện nhận thức lý luận đã có sự thừa nhận về LĐNN, các công trình nghiên cứu đều đưa ra các tiêu chí nhằm phân loại LĐNN giúp công tác QLLĐNN bằng pháp luật thực hiện dễ dàng hơn đối với từng đối tượng LĐNN làm việc dưới các hình thức khác nhau.
Về pháp luật QLLĐNN: đối với lĩnh vực này, đã có nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau. Một số công trình luận văn, luận án xây dựng cơ sở pháp lý điều chỉnh LĐNN trên cơ sở nghiên cứu pháp luật quốc tế và các công ước quốc tế. Các công trình khác đã phân tích một phần nội dung của pháp luật QLLĐNN như HĐLĐ.
Nhìn chung, các công trình đã nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận chung về QLLĐNN và pháp luật QLLĐNN. Tuy nhiên, các công trình vẫn chưa đưa ra một số các khái niệm cụ thể như “pháp luật QLLĐNN”, chưa phân tích đặc điểm và nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật QLLĐNN. Đồng thời các công trình vẫn chưa nghiên cứu về QLLĐNN và pháp luật QLLĐNN gắn với bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế.
Thứ hai, về thực trạng pháp luật QLLĐNN tại Việt Nam
Các công trình nghiên cứu có sự phân tích đánh giá ở mức độ nhất định về thực trạng pháp luật Việt Nam về QLLĐNN cũng như thực tiễn thực hiện. Một số luận án, luận văn chỉ ra trong quá trình thực hiện pháp luật QLLĐNN đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế về các quy định pháp luật điểu chỉnh và thực thi pháp luật QLLĐNN về HĐLĐ, về tuyển dụng LĐNN, về quyền và nghĩa vụ của LĐNN làm việc tại Việt Nam, về xử lý vi phạm LĐNN và người sử dụng người LĐNN… Các công trình nghiên cứu khoa học trước đó đánh giá thực trạng pháp luật QLLĐNN theo từng mảng nội dung nhỏ, giúp luận án nhìn nhận sâu sắc hơn. Tuy nhiên, hiện chưa có công trình nào nghiên cứu đánh giá tổng thể thực trạng các quy định pháp luật QLLĐNN làm việc tại Việt Nam.
Thứ ba, về hoàn thiện pháp luật QLLĐNN:
Đa số các công trình nghiên cứu đưa ra định hướng hoàn thiện, các giải pháp hoàn thiện pháp luật QLLĐNN trên phương diện sửa đổi hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật, đồng thời kiến nghị các giải pháp nhằm tạo lập các điều kiện đảm bảo thực hiện có hiệu quả các quy định của pháp luật QLLĐNN. Đặc biệt, một số công trình nghiên cứu nước ngoài đưa ra các mô hình QLLĐNN và chính sách tuyển dụng LĐNN phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế của từng quốc gia. Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đã giải quyết được một phần những vấn đề về hoàn thiện pháp luật. Tuy nhiên vẫn chưa làm sáng tỏ những vấn đề về quan điểm và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật QLLĐNN, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Đây là nhiệm vụ mà luận án có trách nhiệm thực hiện.
1.1.2.3. Những vấn đề cần được nghiên cứu trong luận án
Bên cạnh việc kế thừa thành tựu của các công trình nghiên cứu đã nêu ở trên, luận án cần tiếp tục nghiên cứu những vấn đề còn bỏ ngỏ, chưa được giải quyết như sau:
Thứ nhất, về phương diện lý luận:
Nghiên cứu làm sâu sắc hơn một số vấn đề lý luận về QLLĐNN và pháp luật QLLĐNN. Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết về QLLĐNN, các quan niệm về QLLĐNN trên thế giới và ở Việt Nam, luận án đưa ra khái niệm pháp luật QLLĐNN, đặc điểm và nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật QLLĐNN.
Thứ hai, về thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật:
Một số các công trình nghiên cứu chỉ tiếp cận QLLĐNN làm việc tại Việt Nam dưới góc độ quản lý nhà nước hoặc dưới góc độ là người sử dụng LĐNN. Luận án nghiên cứu mang tầm khái quát phạm vi quản lý đối tượng LĐNN trên bình diện chủ thể quản lý là Nhà nước. Luận án làm sáng tỏ những quy định về sự quản lý Nhà nước đối với các nội dung của pháp luật QLLÐNN làm việc tại Việt Nam, cụ thể là Nhà nước điều chỉnh như thế nào đối với vấn đề tuyển dụng LĐNN, quản lý HĐLĐ đối với người nước ngoài,… mối liên hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền trong cùng hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về LĐNN làm việc ở Việt Nam. Đồng thời, luận án đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật QLLĐNN làm việc tại Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2020 khi Việt Nam tích cực tham gia các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTAs) có các cam kết về lao động, bao gồm chỉ rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế đó trên cơ sở pháp luật lao động hiện hành và lồng ghép so sánh với pháp luật lao động thời kỳ trước.
Thứ ba, về kiến nghị hoàn thiện pháp luật QLLĐNN:
Trên cơ sở nghiên cứu pháp luật quốc tế, đặc biệt là những quốc gia có nhu cầu thị trường lao động tương tự như Việt Nam và rút ra những bài học kinh nghiệm, luận án nghiên cứu xác định những quan điểm, định hướng và đề xuất giải pháp phù hợp, cụ thể với tình hình phát triển của Việt Nam nhằm hoàn thiện pháp luật QLLĐNN làm việc tại Việt Nam hiện nay trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế dưới góc nhìn không chỉ là nhu cầu của thị trường lao động trong nước, mà phải tuân thủ các cam kết quốc tế về lao động. Những giải pháp bao gồm giải pháp về hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật QLLĐNN làm việc tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa.
Tải về tại đây để xem đầy đủ tài liệu
Định dạng | Link tải |