[Tiểu luận 2021] Để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, có ý kiến cho rằng cần thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia ở Việt Nam. Với kiến thức về Luật Hiến pháp, hãy lập luận để ỦNG HỘ ý kiến trên (ST0067)
Định dạng | Link tải |

Mục lục
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| BẢNG ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG NHÓM | 1 |
| MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Nêu vấn đề | 1 |
| 2. Một số khái niệm | 1 |
| 2.1. Quyền con người là gì? | 1 |
| 2.2. Cơ quan nhân quyền quốc gia là gì? | 1 |
| HỆ THỐNG LẬP LUẬN | 2 |
| Luận điểm 1: Thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia ở Việt Nam làm tăng tính độc lập và hiệu quả trong việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền. | 2 |
| Luận điểm 2: Việc thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia là một cách đối phó hữu hiệu trước những “cơn bão xuyên tạc” nhân quyền tại Việt Nam. | 3 |
| Luận điểm 3: Việc vận hành cơ quan nhân quyền quốc gia như một công cụ chuyên nghiệp phù hợp với thực tiễn và mang lại nhiều cơ hội cho Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển | 5 |
| Đề xuất chính sách | 7 |
| KẾT LUẬN | 10 |
| DANH MỤC THAM KHẢO | 11 |
Định dạng | Link tải |
Lời mở đầu
Luận điểm 1: Thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia ở Việt Nam làm tăng tính độc lập và hiệu quả trong việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền.
1.1. Cơ sở lập luận
– Nguyên tắc Paris
1.2. Phân tích lập luận:
Nhằm đánh giá khách quan mức độ nhận thức của các cá nhân trong xã hội về QCN, nhóm chúng tôi đã thực hiện một cuộc khảo sát nhỏ (phần phụ lục) và thu được 250 câu trả lời, cụ thể: 93% các đối tượng tham gia khảo sát đều đã từng nghe tới “QCN” thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, từ môi trường giáo dục, từ người thân hoặc tự tìm hiểu… Gần 90% số người tham gia cho rằng QCN “rất quan trọng”. Từ kết quả thu được và thực tiễn hiện nay, có thể thấy, vấn đề QCN đang ngày càng được đề cao và chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong công cuộc xây dựng, phát triển của các quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Tại Việt Nam, có một số cơ quan có thể coi là cơ quan nhân quyền đặc biệt nhưng các cơ quan này chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của một hoặc một số nhóm đối tượng cụ thể, ví dụ như: Ủy ban vì sự tiến bộ của phụ nữ (giới hạn đối tượng là phụ nữ); Ủy ban Quốc gia về người khuyết tật (giới hạn đối tượng là những người khuyết tật)… Hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ và thúc đẩy QCN tại Việt Nam đang được đảm bảo thực hiện bởi các cơ quan như: Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan Tư pháp, các tổ chức chính trị xã hội…Tuy đã có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan, song trong thực tiễn hoạt động, các cơ quan này khó tránh khỏi sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ; ngoài ra, tính chuyên trách cũng không được đảm bảo[1].
Việc thành lập CQNQQG tại Việt Nam sẽ góp phần làm tăng tính hiệu quả trong bảo vệ nhân quyền, đảm bảo tính chuyên trách, hạn chế tối đa sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan khác nhau trong việc bảo vệ và thúc đẩy QCN tại Việt Nam vì CQNQQG có chức năng:
- Tư vấn cho Chính phủ, Quốc hội và các cơ quan nhà nước khác về các vấn đề lập pháp, hành pháp, tư pháp và thực tiễn liên quan đến bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền;
- Góp phần đảm bảo sự hài hòa giữa pháp luật quốc gia với các tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền;
- Hỗ trợ xây dựng các báo cáo quốc gia về nhân quyền trình các cơ quan Liên Hợp Quốc;
- Hỗ trợ xây dựng các chương trình nghiên cứu, giảng dạy, phổ biến rộng rãi kiến thức về nhân quyền đến tất cả mọi người trong xã hội.
Theo Nguyên tắc Paris, tính độc lập của CQNQQG là hết sức quan trọng, nó giúp tránh khỏi những ảnh hưởng về chính trị có tác động tới sự khách quan khi tiến hành các hoạt động thúc đẩy, bảo vệ quyền con người; bởi Nhà nước – chủ thể đầu tiên, trước hết có nghĩa vụ và khả năng bảo vệ, bảo đảm nhân quyền, đồng thời cũng là chủ thể có khả năng vi phạm nhân quyền nhất. Chính vì vậy, CQNQQG – một cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước sẽ là một cơ quan có khả năng thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền ở mức cao nhất, đảm bảo sự độc lập, khách quan, toàn diện khi xem xét các vấn đề liên quan đến nhân quyền trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Luận điểm 2: Việc thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia là một cách đối phó hữu hiệu trước những “cơn bão xuyên tạc” nhân quyền tại Việt Nam.
2.1. Cơ sở lập luận:
– Điều 25 Hiến pháp 2013: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí…”;
– Đặc điểm chế độ chính trị của Việt Nam: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với một Đảng cầm quyền duy nhất là Đảng Cộng Sản Việt Nam;
– Cam kết của Việt Nam khi được bầu Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2014 – 2016;
– Thực tế các thế lực thù địch thường lợi dụng vấn đề về QCN để thực hiện chống phá, gây rối.
2.2. Phân tích lập luận:
Ở Việt Nam nhiều năm qua, vấn đề nhân quyền đã và đang bị các thế lực thù địch lợi dụng để thực hiện âm mưu chống phá Đảng và Nhà nước. Điều 25 Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí”, dựa vào đó, các thế lực thù địch đã sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng “với hơn 40 đài phát thanh và truyền hình, gần 400 tờ báo và tạp chí tiếng Việt, một số lượng lớn đơn truyền, băng hình…”[2] chứa những luận điệu xuyên tạc để bôi nhọ, bóp méo tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Chúng liên tục bịa đặt Việt Nam vi phạm nhân quyền; ra sức tuyên truyền, cổ súy cho quan điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “lợi ích cá nhân cao hơn lợi ích cộng đồng”, nhất là hiện nay khi Chính phủ và chính quyền địa phương thực hiện biện pháp giãn cách để phòng chống sự lây nhiễm của dịch Covid – 19 mà hạn chế một số quyền của công dân.
Sở dĩ vấn đề nhân quyền thường xuyên trở thành “miếng mồi” cho các thế lực thù địch lợi dụng bởi đây là một vấn đề nhạy cảm và phức tạp, bất kỳ sự tác động nào đến QCN cũng đều gây ra ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống cá nhân nói riêng và toàn xã hội nói chung. Ngoài ra, đặc điểm chế độ chính trị của nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với một Đảng cầm quyền duy nhất là Đảng Cộng Sản Việt Nam. Tuy nhiên, các thế lực thù địch thường xuyên mượn việc này để rêu rao rằng: chế độ chính trị ở nước ta là độc tài, “mất dân chủ”, dẫn tới QCN không được bảo đảm. Mặt khác, khi bầu Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2014 – 2016, Việt Nam đã cam kết: “Củng cố các tổ chức quốc gia bảo vệ nhân quyền, trong đó có thể thành lập một cơ quan nhân quyền quốc gia”. Nhưng trên thực tế, Việt Nam vẫn chưa có động thái rõ ràng về việc sẽ thành lập CQNQQG. Điều này là một lỗ hổng để các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc rằng Việt Nam không thực hiện đúng cam kết đã ký kết.
Do đó việc thành lập CQNQQG là một biện pháp hữu hiệu góp phần loại bỏ “cơn bão xuyên tạc” về nhân quyền ở Việt Nam. Nó tạo ra một cơ chế để bảo vệ và thúc đẩy QCN một cách hiệu quả, đồng thời góp phần khẳng định nước ta là nhà nước “của dân, do dân, vì dân”. Bên cạnh đó góp phần dập tắt luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch khi cho rằng chế độ một Đảng ở nước ta sẽ dẫn đến lạm quyền khiến QCN bị xâm hại. Ngoài ra, với vai trò của mình, CQNQQG còn tiến hành phổ biến nâng cao nhận thức của người dân về QCN, tránh được “cái bẫy” mà các thế lực chống phá đặt ra. Tất cả những điều trên sẽ đóng vai trò lớn trong việc tạo lập cơ sở vững chắc để bảo vệ và thúc đẩy QCN ở nước ta mạnh mẽ hơn.
Luận điểm 3: Việc vận hành cơ quan nhân quyền quốc gia như một công cụ chuyên nghiệp phù hợp với thực tiễn và mang lại nhiều cơ hội cho Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển
3.1. Cơ sở lập luận:
– Vị trí của QCN, quyền công dân trong Hiến pháp 2013;
– Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội;
– Quyết định số 1975/QĐ – TTg 2019 nhằm đẩy nhanh việc thúc đẩy cải cách tư pháp, củng cố pháp luật về QCN phù hợp với các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên;
– 14 cam kết của Việt Nam khi được bầu vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2014-2016.
3.2. Phân tích lập luận:
Thứ nhất, việc thành lập cơ quan nhân quyền là sự tiếp nối truyền thống, tiếp nối quan điểm của những người đi trước trong việc bảo vệ QCN, nhất là trong đường lối chính sách nhân quyền được khẳng định tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Bên cạnh đó Hiến pháp 2013 chương về QCN đã được nâng lên thành chương 2, cho thấy nhà nước thừa nhận và coi trọng QCN. Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của dân, do dân, vì dân”, vì thế việc đảm bảo QCN, quyền công dân là điều quan trọng. Do đó, việc thành lập CQNQQG sẽ cho thấy sự quan tâm của nhà nước với nhân dân và tạo dựng niềm tin của nhân dân với chính quyền.
Thứ hai, việc thúc đẩy và bảo vệ QCN trước hết được thực hiện bởi pháp luật của mỗi quốc gia, nhưng bên cạnh đó, nó cũng được điều chỉnh bởi pháp luật quốc tế mà các quốc gia có nghĩa vụ phải tuân thủ khi là thành viên của các điều ước quốc tế. Việc tuân thủ các quy định là bước đi quan trọng, tạo điều kiện để đất nước hội nhập và phát triển hơn nữa. Để thực hiện việc này, cần phải có cơ chế và bộ máy phù hợp. Thực tiễn cho thấy CQNQQG là một phần không thể thiếu trong cơ chế, bộ máy đó. Tính đến ngày 6/12/2021 có 118 CQNQQG trên thế giới; trong số 10 quốc gia thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, có 5 nước có CQNQQG là Indonesia, Malaysia, Myanmar, Philippin và Thái Lan[3]. Việt Nam là thành viên của nhiều công ước quan trọng về nhân quyền trên thế giới, trong đó có 2 công ước quan trọng là Công ước về các quyền dân sự và chính trị (1966), Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966), nên cần có trách nhiệm thực thi nghiêm chỉnh, đồng thời cần chủ động tạo điều kiện bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Một hướng đi mang lại nhiều hiệu quả là thành lập CQNQQG – được vận hành và áp dụng các chuẩn mực nhân quyền quốc tế để bảo vệ và thúc đẩy vấn đề nhân quyền trong nước. Với vị thế “cầu nối đặc biệt” của mình, CQNQQG sẽ giúp Việt Nam hạn chế, hóa giải những bất đồng về ý kiến, chính sách giữa nhà nước với các tổ chức khu vực và quốc tế, tạo điều kiện để đất nước hội nhập và phát triển hơn nữa.
Thứ ba, thành lập CQNQQG sẽ giúp nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong 14 cam kết của Việt Nam khi được bầu vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2014 – 2016, cam kết thứ 3 liên quan đến khả năng thiết lập CQNQQG: “Củng cố các tổ chức quốc gia bảo vệ nhân quyền, trong đó có thể thành lập một cơ quan nhân quyền quốc gia”. Bên cạnh đó, Việt Nam đã thể hiện vai trò là thành viên tích cực trong các diễn đàn hội nghị khu vực và quốc tế trong lĩnh vực nhân quyền như tham gia đối thoại hàng năm về nhân quyền với các nước như Hoa Kỳ, Úc, Na-uy; đồng thời cũng tham gia tích cực tại Ủy ban liên Chính phủ ASEAN về Nhân quyền[4]… Đặc biệt, ngày 31/12/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 1975/QĐ – TTg nhằm đẩy nhanh việc thúc đẩy cải cách tư pháp, củng cố pháp luật về QCN phù hợp với các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Vậy nên, thành lập CQNQQG có vai trò trung gian, là “cầu nối” giữa các tổ chức, diễn đàn của quốc gia và quốc tế. Bên cạnh đó còn giúp Việt Nam tăng cường hội nhập, nâng cao uy tín trên trường quốc tế.
Đề xuất chính sách:
Việc thành lập CQNQQG tại Việt Nam theo dạng thức nào đòi hỏi phải có thêm những nghiên cứu chuyên sâu, tuy nhiên, có ba dạng thức có thể xem xét, đó là:
- Thành lập dưới dạng Cơ quan Thanh tra Quốc hội
- Thành lập dưới dạng một Ủy ban nhân quyền
- Cải tổ (hợp nhất) một số ủy ban của Quốc hội và cơ quan của Chính phủ theo hướng để trở thành các cơ quan nhân quyền đặc biệt.8
Với các dạng thức trên, nhóm chúng tôi đề xuất việc thành lập CQNQQG theo dạng thức hợp nhất những cơ quan Nhà nước đã đi vào hoạt động và có cùng mục tiêu bảo vệ, thúc đẩy QCN như: Ủy ban vì sự tiến bộ của phụ nữ, Ủy ban Quốc gia về người khuyết tật,… Cơ quan này có nhiệm vụ tiếp nhận và giải quyết các đơn thư khiếu nại liên quan đến vấn đề nhân quyền. Bên cạnh đó, CQNQQG cũng có quyền giám sát các hoạt động tư pháp nhằm đảm bảo sự bình đẳng giữa các cá nhân theo quy định của pháp luật, đề xuất chính sách cho Chính phủ nhằm triển khai các quy định pháp luật về QCN. Vai trò tư vấn góp phần xây dựng báo cáo quốc gia một cách khách quan hơn[5]. Mục tiêu của việc thành lập CQNQQG này nhằm giải thích, phổ cập, tư vấn, bảo vệ và thúc đẩy QCN ở Việt Nam. Mô hình này có những ưu điểm sau:
- Mở rộng đối tượng bảo vệ của những cơ quan hiện tại thay vì chỉ bảo vệ một số đối tượng nhất định, tránh được sự chồng chéo về chức năng giữa các cơ quan, đảm bảo được tính chuyên trách;
- Phù hợp với thực tiễn chính trị, xã hội, pháp lý ở Việt Nam;
- Nguồn nhân lực có khả năng chuyên môn cao, có kinh nghiệm, để đảm bảo tính độc lập, sau khi sáp nhập, họ cần được tách ra khỏi những cơ quan thuộc Chính phủ trước đây, thay vào đó là làm việc độc lập tại CQNQQG;
- Thực hiện theo Nghị quyết số 39 – NQ/TW một cách hiệu quả chính sách tinh giản biên chế, nâng cao hiệu lực hiệu quả trong hoạt động của bộ máy Nhà nước hiện nay;
- Tiết kiệm được kinh phí hoạt động cho ngân sách Nhà nước.
Nguyên tắc Paris được lấy làm tiêu chí đánh giá mức độ tương thích về tổ chức và hoạt động, nghĩa là CQNQQG có vị thế tuyệt đối trong vấn đề giải quyết các hành vi vi phạm nhân quyền. Tuy nhiên, điều này không cản trở việc chúng ta lựa chọn xây dựng một cơ quan nhân quyền quốc gia phù hợp thực tiễn chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa Việt Nam, như một nội hàm của quyền dân tộc tự quyết. Tính độc lập được đề cập trong Nguyên tắc Paris cũng chỉ mang tính tương đối. Độc lập ở đây không có nghĩa là không có trách nhiệm giải trình với bất kỳ chủ thể nào. Thực tế trên thế giới cho thấy CQNQQG dù thành lập theo mô hình nào, cũng phải báo cáo và chịu sự giám sát của một chủ thể khác ví dụ như Quốc hội, Chính phủ…Độc lập không có nghĩa là thành phần tham gia chỉ bao gồm đại diện của các tổ chức phi chính phủ. Thực tế cho thấy CQNQQG, dù theo mô hình nào, cũng khuyến khích sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức và tầng lớp xã hội khác nhau, bao gồm các cơ quan nhà nước.[6]
Việc xây dựng CQNQQG tại Việt Nam cần phải đảm bảo những yếu tố:
- Thứ nhất, cần ghi nhận việc thành lập CQNQQG trong Hiến pháp hoặc các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết về thành phần, cơ cấu, phạm vi, thẩm quyền của CQNQQG, giúp khẳng định được tính chính danh của cơ quan nhân quyền;
- Thứ hai, cơ cấu tổ chức của CQNQQG đảm bảo tính đa dạng về cơ cấu nhân sự;
- Thứ ba, cần chuẩn bị đầy đủ về mặt tài chính và nhân lực;
- Thứ tư, đào tạo về mặt chuyên môn, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ;
- Thứ năm, nghiên cứu học hỏi kinh nghiệm thành lập và cơ chế vận hành các CQNQ của các quốc gia khác để xây dựng CQNQQG phù hợp với Việt Nam.
[1] Tạp chí Luật học số 9/2013, ThS. Mạc Thị Hoài Thương, Trường Đại học Luật Hà Nội.
[2] Nhận diện sự chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng – văn hóa, PGS.TS Bùi Đình Bôn, Cộng sản Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Số 894 (4/2017), tr. 69 – 73.
[3] sotp.thainguyen.gov.vn/tin-tuc-su-kien/-/asset_publisher/hEnG94ajEooh/content/viet-nam-tich-cuc-tham-gia-va-thuc-hien-noi-ia-hoa-tuyen-ngon-the-gioi-ve-nhan-quyen-va-cac-cong-uoc-quoc-te-ve-nhan- quyen
[4] nhanquyen.vietnam.vn/post/lua-chon-mo-hinh-co-quan-nhan-quyen-quoc-gia-thich-hop-cho-viet-nam
[5] TS Chu Mạnh Hùng, Vị trí, vai trò của cơ quan nhân quyền quốc gia trong cơ chế bảo đảm quyền con người, Tạp chí luật học số 10/2016, tr. 27 – 28
[6] Lã Khánh Tùng, Vũ Công Giao, TS, PGS. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Các Nguyên tắc Paris về tính độc lập của cơ quan nhân quyền quốc gia và việc áp dụng ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 10 (338) T5/2017, tr. 15 – 16.
Tải về để xem đầy đủ tài liệu
Định dạng | Link tải |