[Tiểu luận 2021] Để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, có ý kiến cho rằng cần thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia ở Việt Nam. Với kiến thức về Luật hiến pháp, hãy lập luận để PHẢN ĐỐI ý kiến trên (ST0064)
Định dạng | Link tải |

Mục lục
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| BẢNG ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG NHÓM | |
| Giải thích thuật ngữ trong chủ đề | |
| Giải thích thuật ngữ trong dẫn chứng | |
| NỘI DUNG | 1 |
| Luận đề 1: Thực trạng cơ quan nhân quyền trên thế giới và tại sao tới bây giờ Việt Nam lại vẫn chưa có cơ quan nhân quyền? | 1 |
| Luận đề 2: Việc thiết lập cơ quan Nhân quyền quốc gia tại Việt Nam có thực sự cần thiết hay không? | 2 |
| Luận đề 3: Đề xuất giải pháp nâng cao nhân quyền tại Việt Nam | 6 |
| NGUỒN TÀI LIỆU THAM KHẢO: | 8 |
Định dạng | Link tải |
Lời mở đầu
Luận đề 1: Thực trạng cơ quan nhân quyền trên thế giới và tại sao tới bây giờ Việt Nam lại vẫn chưa có cơ quan nhân quyền?
Xét theo tính độc lập và tính hiệu quả trong hoạt động thì gần 50% các cơ quan nhân quyền được lập ra ở một số nước trên thế giới không đảm bảo được yêu cầu của Nguyên tắc Paris. Mặc dù xu thế chung và dựa trên sự kêu gọi của LHQ về việc thành lập 1 cơ quan nhân quốc gia, hiện nay, có hơn 100 tổ chức như vậy. Tuy nhiên, theo đánh giá của GANHRI (cơ quan đánh giá về tính độc lập và hiệu quả của 1 tổ chức quốc tế) Đến tháng 5/2019, GANHRI công nhận 79 cơ quan nhân quyền quốc gia ở “trạng thái A” (hoàn toàn tuân thủ Nguyên tắc Paris), 34 cơ quan nhân quyền quốc gia ở “trạng thái B” (tuân thủ một phần Nguyên tắc Paris) và 10 cơ quan nhân quyền quốc gia ở “trạng thái C” (không tuân thủ Nguyên tắc Paris) và 1 số cơ quan nhân quyền quốc gia không được sự công nhận. Ở hầu hết các nước, việc thành lập một cơ quan nhân quyền quốc gia sẽ được quy định trong Hiến pháp, một đạo luật nhân quyền hoặc luật quy định cụ thể về tổ chức. Còn tại Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 chưa có 1 điều khoản nào quy định về vấn đề 1 cơ quan nhân quyền quốc gia. Việc thành lập cơ quan nhân quyền liệu có ảnh hưởng đến Hiến pháp 2013 sẽ được chúng tôi đề cập ở luận đề tiếp theo.
Chức năng của cơ quan nhân quyền của gia là: Thúc đẩy các quyền con người; Bảo vệ các quyền con người; Giám sát các quyền con người; Điều phối các hoạt động nhân quyền. Chức năng của 1 cơ quan nhân quyền tại Việt Nam đã được ủy quyền cho 1 số cơ quan nói chung là toàn thể, Quốc hội có quyền lập pháp đã ban hành Hiến pháp, luật bảo vệ quyền con người (Hiến pháp 2013), Toà án mang lại công lý cho người dân tức là toà án đang bảo vệ Quyền con người, quyền công dân…
Dẫn chứng:
Tình trạng vi phạm nhân quyền ở Mỹ: Theo báo cáo của tổ chức Giám sát nhân quyền (HRW) công bố ngày 22-1-2012 về tình trạng vi phạm nhân quyền của một số nước trên thế giới cho thấy ngay tại nước Mỹ, một quốc gia luôn tự cho mình là “Thước đo về dân chủ, nhân quyền” nhưng lại có những vi phạm nghiêm trọng trong việc bảo vệ quyền con người. Tình trạng giam giữ không xét xử vẫn tràn lan trong các nhà tù ở Mỹ. chính phủ Mỹ tiếp tục sử dụng các chính sách khủng bố, trong đó có việc giam giữ không xét xử tại nhà tù Guantanamo. Điều kiện giam giữ tù nhân tại nhà tù này đang trong tình trạng khắc nghiệt và vô nhân đạo khiến các tù nhân nổi giận, làm cho họ suy sụp cả về thể chất lẫn tinh thần. Mặc dù nhiều tổ chức nhân đạo và cộng đồng quốc tế đã nhiều lần kêu gọi Chính quyền Mỹ phóng thích hoặc buộc tội và đưa ra xét xử các tù nhân tại nhà tù Guantanamo nhưng đến nay Chính quyền Mỹ vẫn phớt lờ những kêu gọi này.
Luận đề 2: Việc thiết lập cơ quan Nhân quyền quốc gia tại Việt Nam có thực sự cần thiết hay không?
Việc thiết lập cơ quan nhân quyền quốc gia tại Việt Nam thực sự không cần thiết, ít nhất là trong thời điểm hiện nay. Bởi lẽ:
Hiến pháp năm 2013, đặc biệt là tại Chương II, đã đưa ra nhiều điều khoản bảo vệ các quyền con người cơ bản và xác định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ quyền. Trong thực tế, một số cơ quan ở Việt Nam hiện nay có trách nhiệm tiếp nhận các khiếu nại, kiến nghị của công dân, nghiên cứu, giáo dục về quyền con người, hoặc bảo vệ quyền của một số nhóm, bao gồm một số tổ chức liên ngành như: Ban Chỉ đạo về nhân quyền thuộc Chính phủ, Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, Uỷ ban quốc gia về Người khuyết tật Việt Nam…
Nhiều văn bản chính sách, chương trình của các cơ quan Nhà nước được đưa ra thể hiện rõ sự quan tâm của Nhà nước đối với người dân, như Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016 – 2020, Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 – 2020, Chương trình bảo vệ trẻ em giai đoạn 2016 – 2020, Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2016 – 2020 của Chính phủ…
Theo cái nhìn của thế giới đối với nhân quyền tại Việt Nam thì việc thiết lập một cơ quan nhân quyền ở Việt Nam sẽ là một vấn đề có tính chất chất cấp thiết, thể hiện được sự quan tâm của nhà nước ta đối với mọi cá nhân hay phù hợp với xu thế chung của toàn thế giới. Tuy nhiên theo:
Điều 50 Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung 2001 đã quy định: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật.” Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền Công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng (khoản 2 Điều 14).
Do vậy, có thể thấy Hiến pháp quy định rõ ràng và đảm bảo thực hiện quyền con người cho công dân. Quy định này đến nay vẫn được thực hiện và quyền con người vẫn duy trì ổn định nên việc cần thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia ở Việt Nam là chưa cần thiết.
Việc thiết lập cơ quan nhân quyền quốc gia hoàn toàn phụ thuộc vào tình trạng của đất nước, nó có thể gặp những khó khăn sau:
Hạn chế về tiềm lực quốc gia: Để duy trì một tổ chức, vấn đề quan trọng hàng đầu là cơ chế quản lí, hệ thống chuyên trách thực hiện chuyên môn. Lãnh đạo với việc bổ nhiệm thành viên và lãnh đạo tổ chức, phân định rõ vai trò, thẩm quyền giữa các lãnh đạo, cơ chế ra quyết định; đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng quản lý. Cấu trúc tổ chức: phân chia thành các đơn vị (phòng, ban) theo các lĩnh vực hoạt động; xác định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của mỗi cấp; bảo đảm trách nhiệm giải trình của người điều hành, quản lý tổ chức… Tuy nhiên, chính sách chung của Nhà nước hiện nay là tinh giản, giảm bớt sự cồng kềnh của các cơ quan. Việc một số cơ quan có thẩm quyền hiện nay đang làm khá tốt các chức năng của mình trong việc đảm bảo quyền con người thì việc thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia là không cần thiết.
Cơ sở hạ tầng: cơ sở hạ tầng của cơ quan nhân quyền quốc gia cần những thành tố sau: trụ sở, phương tiện truyền thông, cơ sở dữ liệu thông tin… Trụ sở: việc sở hữu trụ sở, không phải chi trả tiền phí thuê hàng năm sẽ giúp cơ quan có thêm ngân sách dành cho các hoạt động khác; trụ sở tại địa điểm dễ đi lại cho người dân, bao gồm những người khuyết tật, cũng là một thành tố quan trọng bảo đảm khả năng dễ tiếp cận; trụ sở cũng nên tách khỏi văn phòng của các cơ quan nhà nước khác để bảo đảm sự độc lập. Hiện nay, tình hình kinh tế, xã hội Việt Nam chưa thể đảm bảo thực hiện tốt cơ sở hạ tầng này.
Vấn đề tài chính: yêu cầu của 1 cơ quan nhân quyền quốc gia là sự độc lập về tài chính. Tuy nhiên, muốn duy trì được tổ chức thì cần có tiền buộc phải nhận được tài trợ của chính phủ hay 1 tổ chức thứ ba. Do đó sẽ phần nào tạo ra nghĩa vụ song song và làm mờ ý tưởng về quyền tự chủ của cơ quan nhân quyền quốc gia. Vì vậy đặt ra vấn đề: liệu còn mang tính độc lập như nguyên tắc Paris. Việc tự chủ tài chính, đóng góp thuế của nhân dân để duy trì một cơ quan nhân quyền quốc gia độc lập với tài chính của chính phủ là vi phạm theo nguyên tắc hoạt động của nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ví dụ, chương trình bảo vệ nhân chứng tại Philippines, trong quá trình giải quyết vụ việc, với ngân sách eo hẹp, NHRIs của nước này đã không có đủ kinh phí để thực hiện nhiệm vụ cung cấp các khoản trợ cấp về tài chính, chỗ ở bảo đảm duy trì cuộc sống cho nạn nhân các vụ vi phạm nhân quyền và gia đình họ. Hoặc ở Thái Lan, kinh phí của NHRIs chỉ đủ hỗ trợ chi phí di chuyển tới tham gia làm chứng cho những nạn nhân của vi phạm nhân quyền. Do không được bảo vệ, rất khó để họ khách quan cung cấp thông tin, nhất là khi bị đe dọa bởi các yếu tố khác, dẫn tới khó khăn trong việc giải quyết các vi phạm về nhân quyền.
Văn hóa đối thoại, tương tác giữa các cơ quan, tổ chức xã hội, báo chí, công dân, cũng như với các tổ chức quốc tế còn hạn chế; văn hóa nhân quyền đang trong giai đoạn hình thành; việc thực thi một số quyền dân sự như ngôn luận, hội họp đôi khi còn gặp rào cản…
Thay vì đặt tài nguyên hiện có vào các hạn chế này, chúng ta nên dành nguồn tài nguyên và nhân lực để phát triển các yếu tố nhằm giúp xã hội và đất nước đi lên, từ đó mặc định cuộc sống của người dân sẽ tích cực hơn, điều này phản ánh việc thành lập cơ quan nhân quyền là không cần thiết khi chúng ta biết vận dụng tốt nguồn tài nguyên hiện có.
Ở một vài quốc gia khác trên thế giới, nhân quyền được đặt lên trên nhờ cơ quan nhân quyền quốc gia. Ta có thể thấy được sự bất cập ở một số quốc gia như sau:
Chiến tranh Afghanistan là một cuộc chiến tranh diễn ra sau sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Afghanistan. dưới danh nghĩa bảo vệ người dân Afganistan khỏi phần tử khủng bố Taliban. Sau khi Hoa Kỳ và các đồng minh đã hạ bệ thành công Taliban từ vị trí nắm quyền lực để không cho al-Qaeda có cơ sở hoạt động an toàn ở Afghanistan. Khi hoàn thành các mục tiêu ban đầu, một liên minh gồm hơn 40 quốc gia (bao gồm tất cả các thành viên NATO) đã thành lập một phái bộ an ninh tại quốc gia này với tên gọi Lực lượng Hỗ trợ An ninh Quốc tế. Cuộc chiến chủ yếu bao gồm quá trình nổi dậy của Taliban chống lại Lực lượng vũ trang Afghanistan và các lực lượng đồng minh; phần lớn binh lính và nhân viên ISAF / RS là người Mỹ. Có thể thấy, nhân quyền quốc gia đã trở thành cái cớ để Mỹ đưa quân vào Afganistan.
Trong thời buổi dịch bệnh, công dân một số quốc gia Châu Âu đòi nhân quyền trong một số luật nhằm hạn chế dịch bệnh. Cụ thể:
Ở nước Áo, 20/11/2021, vài chục ngàn người đã xuống đường biểu tình ở thủ đô Vienna nhằm phản đối các biện pháp phòng chống dịch mà chính phủ Áo công bố. Ở Thụy Sĩ, đài truyền hình SRF đưa tin 2.000 người đã biểu tình phản đối một cuộc trưng cầu dân ý sắp tới về việc có thông qua luật hạn chế COVID-19 của chính phủ hay không, cho rằng đó là hành vi phân biệt đối xử. Tại Italy, hơn 3.000 người đã tham gia biểu tình trước rạp xiếc Maximus ở Rome, nhằm phản đối “vé thông hành xanh”, một chứng chỉ về dịch được yêu cầu đối với người dân mỗi khi đi làm hoặc đến nhà hàng…
Nhân quyền đang được quá độ và đặt lên trên nhiều luật pháp mang tính cấp bách để hạn chế dịch bệnh ở một số quốc gia châu Âu. Chính vì cơ quan nhân quyền quốc gia đã áp đặt suy nghĩ quá khích về quyền hạn của người dân.
Cơ quan nhân quyền quốc gia ra đời đòi hỏi phải sửa đổi bổ sung hiến pháp, hoặc ban hành luật – theo nguyên tắc Paris.
Nguyên tắc Paris là bộ nguyên tắc về thiết chế nhân quyền quốc gia, được thông qua tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc năm 1993. Theo nguyên tắc này, cơ quan nhân quyền phải được quy định trong hiến pháp hoặc luật định. Xét theo nguyên tắc, hiện chưa có bất kì Hiến pháp 2013, hay luật định nào quy định về thành lập cơ quan nhân quyền.
Theo nguyên tắc Paris, về bản chất, cơ quan nhân quyền quốc gia là một thiết chế có tính chất của cơ quan nhà nước , có chức năng tư vấn, hỗ trợ các nhà nước trong việc bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền. Thông thường được thiết lập qua 3 hình thức: Cơ quan thanh tra Quốc hội, Ủy ban nhân quyền quốc gia, Cơ quan chuyên trách về một vấn đề cụ thể. Nếu cơ quan nhân quyền quốc gia được thành lập thì sẽ được tách ra thành một cơ quan riêng biệt, được hưởng mức độ độc lập nhất định về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và hoạt động. Điều đó sẽ dẫn đến việc phải cơ cấu lại bộ máy nhà nước, phải điều chỉnh lại Hiến pháp hoặc phải ban hành thêm Luật mới. Mà việc thực hiện hai điều này không phải là dễ dàng gì, nó sẽ tiêu tốn rất nhiều thời gian, tài chính cũng như công sức của rất nhiều người. Vì vậy việc thiết lập cơ quan nhân quyền này là không hợp lý. Trong khi đó, Hiến pháp 2013 dành hẳn 1 chương II về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Điều này chứng tỏ nhà nước ta rất quan tâm về vấn đề nhân quyền, đồng nghĩa với việc mọi công dân Việt Nam đều được bảo hộ về nhân quyền trước hiến pháp và Pháp luật.
Luận đề 3: Đề xuất giải pháp nâng cao nhân quyền tại Việt Nam
Để nâng cao nhận thức về quyền con người tại Việt Nam, chúng ta cần phải đẩy mạnh các hoạt động phổ biến, giáo dục kiến thức về nhân quyền, tuyên truyền về thành tựu bảo đảm quyền con người; phản bác các luận điệu xuyên tạc về tình hình quyền con người, trong đó, ưu tiên tuyên truyền về thành tựu đảm bảo quyền con người của Nhà nước ta với phương châm “lấy xây để chống”; Công tác tuyên truyền căn bản dựa trên cơ sở tư duy phù hợp với điều kiện hoàn cảnh đặc thù và bối cảnh truyền thông hiện nay. Chúng ta phải thực hiện điều này xuyên suốt và chặt chẽ từ việc đưa ra các chính sách, nguồn nhân lực thực hiện cũng như công nghệ cũng như tài chính nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ nhân quyền tại Việt Nam hiện nay.
Để nâng cao dân quyền tại Việt Nam việc tăng cường đối thoại để thu hẹp những bất đồng trên thế giới về giá trị nhân quyền mỗi nước, tăng cường mối liên hệ giữa các cơ quan trong việc đảm bảo con người, phát huy các thế mạnh của sự thống nhất chặt chẽ của các cơ quan trong việc đảm bảo quyền con người. Đẩy mạnh và nâng cao việc tiếp xúc cử tri. Thực tế hiện nay, việc tiếp xúc cử tri và nhân dân chủ yếu chỉ diễn ra ở cáp cơ sở chứ ít khi được tiến hành ở cấp địa phương. Việc này đã dẫn tới hạn chế nhiều người dân ở vùng sâu, vùng xa hay nơi xa các cơ sở ít có khả năng nêu lên tiếng nói của riêng mình.
Mở hòm thư điện tử riêng về quyền và nghĩa vụ của con người. Quyền và nghĩa vụ đôi khi sẽ còn gặp phải nhiều khúc mắc, khi có sự lắng nghe và giải quyết kịp thời từ nhà nước sẽ có được lòng tin và sự an tâm của người dân hơn.
Tải về để xem đầy đủ tài liệu
Định dạng | Link tải |