[Tiểu luận 2021] Để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, có ý kiến cho rằng cần thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia ở Việt Nam. Với kiến thức về Luật hiến pháp, hãy lập luận để PHẢN ĐỐI ý kiến trên (ST0025)
Định dạng | Link tải |

Mục lục
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| BẢNG ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG NHÓM | |
| BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT | |
| MỞ ĐẦU | 1 |
| NỘI DUNG TRANH BIỆN | 2 |
| PHẦN 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ CHỦ ĐỀ TRANH BIỆN | 2 |
| Luận điểm 1: Vấn đề quyền con người luôn được Việt Nam coi trọng | 2 |
| Luận cứ 1: Hiến pháp và pháp luật Việt Nam đã có những quy định khá tương đối đầy đủ và toàn diện về quyền con người. | 2 |
| Luận cứ 2: Việt Nam đã và đang có những cơ quan với chức năng và thẩm quyền tương tự như CQNQQG nhằm bảo vệ và thúc đẩy quyền con người | 4 |
| Luận điểm 2: Việc xây dụng cơ quan nhân quyền quốc gia là không thực sự phù hợp trong hoàn cảnh của đất nước hiện nay | 6 |
| Luận cứ 1: Mô hình của cơ quan nhân quyền quốc gia không phù hợp với hệ thống bộ máy nhà nước của Việt Nam | 6 |
| Luận cứ 2: Kinh tế Việt Nam không đảm bảo để CQNQQG hoạt động hiệu quả | 8 |
| Luận cứ 3: Vấn đề nhân lực của cơ quan nhân quyền quốc gia | 10 |
| Luận cứ 4: Hoạt động của các cơ quan nhân quyền còn thiếu hiệu quả. (Ở một số nước tiêu biểu trên thế giới) | 12 |
| KẾT LUẬN | 14 |
| TÀI LIỆU THAM KHẢO | 15 |
Định dạng | Link tải |
Lời mở đầu
Cuộc sống ngày càng hiện đại, xã hội ngày càng phát triển đi cùng với đó, quyền con người ngày càng được quan tâm và phát triển nhiều hơn. Theo pháp luật thực định, quyền con người được hiểu là: “Những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và sự tự do cơ bản về quyền con người”. Ngoài ra, nhân quyền cũng được nhìn nhận trên góc độ là các quyền tự nhiên nhưng dù được hiểu hay nhìn nhận như thế nào thì quyền con người luôn luôn được Nhà nước, xã hội tôn trọng và bảo vệ.
Có ý kiến cho rằng, Việt Nam nên thành lập một cơ quan nhân quyền với những chức năng, nhiệm vụ nhằm bảo vệ, thúc đẩy các quyền con người. Tuy nhiên, tình hình hiện tại, việc thành lập nên một cơ quan nhân quyền có đang hợp lý và cần thiết?
Đứng trước những câu hỏi đó, dưới góc nhìn của một nhóm phản đối, nhóm sẽ đưa ra những lập luận, quan điểm của mình để phản đối thành lập
Trong quá trình hoàn thiện bài tập, do vẫn còn nhiều hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không tránh khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết. Kính mong sẽ nhận được những nhận xét, góp ý từ quý thầy cô để bài chúng em có thể được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!.
PHẦN 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ CHỦ ĐỀ TRANH BIỆN
– Quyền con người: Quyền con người được hiểu là những đảm bảo pháp lí toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và sự tự do cơ bản của con người.
– Cơ quan nhân quyền quốc gia: Cơ quan nhân quyền quốc gia (tiếng Anh là National Human Rights Institution, viết tắt là NHRI) (từ đây viết tắt theo tiếng Việt là CQNQQG) là những cơ quan do nhà nước thành lập, được trao thẩm quyền trong Hiến pháp hoặc một đạo luật cụ thể để bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người.
– Chức năng, nhiệm vụ của cơ quan nhân quyền quốc gia:
+ Thúc đẩy các quyền con người;
+ Bảo vệ các quyền con người;
+ Tư vấn cho Chính phủ, Quốc hội và các cơ quan nhà nước khác về các vấn đề quyền con người;
+ Giám sát các quyền con người;
+) Điều phối các hoạt động nhân quyền.
Luận điểm 1: Vấn đề quyền con người luôn được Việt Nam coi trọng
Luận cứ 1: Hiến pháp và pháp luật Việt Nam đã có những quy định khá tương đối đầy đủ và toàn diện về quyền con người.
* Cơ sở lý luận:
Khoản 1,2 Điều 2 Hiến pháp 2013
Điều 3 Hiến pháp 2013
Khoản 1 Điều 4 Hiến pháp 2013
Khoản 1, khoản 2 Điều 2 Hiến pháp 2013 quy định về quyền con người như sau:
“1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.”
– Điều 3 Hiến pháp 2013 quy định: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhâṇ , tôn trọng, bảo vê ̣và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.”
– Khoản 1, Điều 14 Hiến pháp 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.”
* Phân tích lập luận:
Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là các các quy định liên quan đến quyền con người. Điều này thể hiện rõ nét và cụ thể tại chương II trong Hiến pháp 2013 – văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay. Các điều này được quy định nhằm mục đích cốt lõi là bảo đảm cho mọi công dân Việt Nam đều được thụ hưởng đầy đủ các quyền con người cơ bản cũng như quy định về nghĩa vụ của họ. Quyền con người, quyền công dân được thể hiện trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội:
– Về lĩnh vực dân sự, chính trị: Các quyền con người đã được bảo đảm một cách chủ động trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Theo đó bảo đảm quyền sống được quy định tại Điều 19 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”. Đồng thời Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng tiếp tục bỏ án tử hình ở 8 tội danh; không áp dụng hình phạt tử hình với người dưới 18 tuổi, phụ nữ có thai, người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội… Có thể thấy, việc bỏ án tử hình sẽ đảm bảo được tính nhân văn, không trái với quy luật tự nhiên, tránh chết oan người vô tội và phù hợp với pháp luật quốc tế.
– Về mặt kinh tế, văn hóa và xã hội: Quyền con người được thực hiện một cách tích cực trong các chính sách quốc gia như bảo đảm quyền thoát nghèo; quyền được học tập, giáo dục, …Trong khoảng 20 năm trở lại đây, đời sống của nhiều tầng lớp nhân dân, kể cả nhân dân ở các vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa đã được cải thiện một cách rõ rệt. Đến cuối năm 2019, tỷ lệ hộ nghèo cả nước chỉ còn 3,75%, tính bình quân giai đoạn 2015-2019 mỗi năm giảm 1,53% và ước tính đến 2020 chỉ còn 2,75% hộ nghèo.
Những năm qua, Chính phủ Việt Nam không chỉ triển khai, thực thi chính sách bảo đảm quyền con người ở trong nước mà còn chủ động, tích cực đóng góp vào việc tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy quyền con người trên thế giới và được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO).
Luận cứ 2: Việt Nam đã và đang có những cơ quan với chức năng và thẩm quyền tương tự như CQNQQG nhằm bảo vệ và thúc đẩy quyền con người
Cùng với việc thúc đẩy, nâng cao hiệu quả hoạt động thực thi pháp luật về quyền con người, Việt Nam đặc biệt chú trọng tới việc xây dựng và củng cố các thiết chế bảo đảm quyền con người. Ngoài thiết chế nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức xã hội và truyền thông, báo chí cũng tham gia tích cực bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Các cơ quan chuyên môn, chuyên trách về quyền con người đã được Nhà nước thành lập với trách nhiệm tiếp nhận các khiếu nại, kiến nghị của công dân, nghiên cứu, giáo dục về quyền con người, hoặc bảo vệ quyền của một số nhóm, bao gồm một số tổ chức liên ngành như:
– Ban chỉ đạo về nhân quyền của Chính phủ và các địa phương
– Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam;
– Uỷ ban quốc gia về Người khuyết tật Việt Nam…
Một số đơn vị thuộc Quốc hội, Chính phủ, các Bộ hoặc cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam như:
– Ban Dân nguyện của Quốc hội
– Ban Tiếp công dân Trung ương thuộc Thanh tra Chính phủ
– Ủy ban Dân tộc
– Ban Tôn giáo Chính phủ (Bộ Nội vụ)
Hiện nay, Việt Nam đã và đang có một vài thiết chế bảo vệ quyền con người thông qua các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Tải về để xem đầy đủ tài liệu
Định dạng | Link tải |