[Luận văn 2021] Pháp luật về dự phòng rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại tại Việt Nam – ThS. Ngô Phương Vi
Định dạng | Link tải |

Định dạng | Link tải |
1. Lý do chọn đề tài
Trong hoạt động của các TCTD nói chung cũng như với NHTM nói riêng, cấp tín dụng là nghiệp vụ truyền thống, nền tảng, chiếm tỷ trọng cao nhất và đem lại nhiều lợi nhuận nhất, tuy nhiên đây cũng là hoạt động phức tạp nhất, tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt là RRTD. Khi rủi ro ở mức độ nhỏ, NHTM có thể bù đắp bằng lợi nhuận kinh doanh hoặc chấp nhận bị lỗ. Nhưng khi rủi ro ở mức độ nghiêm trọng, nguồn vốn tự có của NHTM không đủ để bù đắp thiệt hại, tất yếu sẽ dẫn đến bờ vực của sự phá sản. Mặt khác, hoạt động của các NHTM mang tính hệ thống, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, sự sụp đổ của một tổ chức có thể gây ra hiệu ứng dây chuyền, kéo theo sự sụp đổ của cả hệ thống, ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế.
Mặc dù vậy, không có một nhà kinh doanh ngân hàng tài ba nào có thể dự đoán chính xác được các vấn đề sẽ xảy ra. Khi thực hiện một hoạt động tài trợ cụ thể, các NHTM phân tích thông tin để xác định độ tin cậy tín dụng của người vay và chỉ quyết định cho vay khi thấy RRTD không cao quá mức có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, khả năng trả nợ của khách hàng có thể bị thay đổi bởi nhiều nguyên nhân, cộng thêm vào đó nhiều cán bộ ngân hàng không có khả năng phân tích tín dụng thích đáng. Do vậy, RRTD là khách quan và không thể tránh khỏi, chỉ có thể để phòng, hạn chế chứ không thể loại trừ.
Một trong các giải pháp để xử lý RRTD được các NHTM áp dụng đó là tăng cường trích lập, sử dụng DPRR. Trích lập, sử dụng DPRR giúp cho các NHTM xử lý nợ xấu một cách bền vững, hạn chế nợ xấu gia tăng nhằm khơi thông dòng vốn trong hệ thống các TCTD, bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng và hỗ trợ vốn tích cực cho nền kinh tế.
Trích lập DPRR càng đầy đủ càng giảm thiểu RRTD, tuy nhiên, trích lập nhiều sẽ dẫn đến sự gia tăng chi phí, do đó không phải NHTM nào cũng có khả năng tài chính đủ tốt để đáp ứng. Đặc biệt trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân, đủ cho các NHTM có chủ động ra soát, kiểm soát chất lượng danh mục, cảnh báo sớm đối với những lĩnh vực chịu rủi ro, chịu tác động lớn trong và sau dịch bệnh, tăng cường kiểm soát dòng tiền, chất lượng tài sản và diễn biến hoạt động của khách hàng, hỗ trợ khách hàng để vượt qua giai đoạn khó khăn của dịch bệnh, song hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, người dân vẫn bị ảnh hưởng, từ đó tác động tới tỷ lệ nợ xấu và chi phí DPRR của các NHTM. Mặc dù vậy, DPRR vẫn là thử không thể thiếu của NHMT, là công cụ để ngăn ngừa và hạn chế tối đa những tổn thất có thể xảy ra, từ đó nâng cao chất lượng tín dụng.
Từ những phân tích gợi mở nêu trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Pháp luật về dự phòng rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
DPRR là một nội dung quan trọng trong hoạt động quản lý, kiểm soát RRTD của NHTM. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại chưa có nhiều công trình nghiên cứu đi sâu vào vấn đề DPRR, mà chủ yếu là các công trình nghiên cứu về vấn đề xử lý nợ xấu, trong đó có nhắc đến nội dung DPRR. Có thể nhắc đến một số công trình nghiên cứu, các bài viết được đăng trên báo tạp chí có nhắc đến vấn đề DPRR như sau:
– Luận văn thạc sĩ luật học “Thực trạng pháp luật về hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại và thực tiễn thi hành tại Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDBank)” của tác giả Nguyễn Thị Mận năm 2018.
– Luận văn thạc sĩ luật học “Pháp luật về nợ xấu trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại và thực tiễn áp dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông” của tác giả Phạm Quang Huy năm 2015.
– Luận văn thạc sĩ luật học “Thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam” của tác giả Nguyễn Vân Anh năm 2016;
– Bài tạp chí “Nghiên cứu dự phòng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” của tác giả ThS. Phạm Xuân Quỳnh, Trần Đức Tuấn đăng trên Tạp chí Tài chính ngày 23/04/2019.
– Bài tạp chí “Tác động của rủi ro tín dụng đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam” của tác giả Đảo Minh Tuấn – Agribank Chi nhánh Tân Phủ đăng trên Tạp chí Tài chính ngày 25/12/2020.
– Bài tạp chí “Một số vấn đề về rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại” của tác giả ThS. Nguyễn Thị Kim Nhung, ThS. Phạm Thị Thu Hiền, ThS Nguyễn Thị Thúy Quỳnh – Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên đăng trên Tạp chí Tài chính ngày 23/12/2017.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận, tiến hành đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về DPRR trong hoạt động của NHTM, thực tiễn áp dụng các quy định này trong hoạt động trích lập, sử dụng DPRR của các NHTM. Từ đó, tìm ra những hạn chế, bất cập trong các quy định pháp luật và những tồn tại trong quá trình áp dụng các quy định đó tại các NHTM, đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao năng lực thi hành pháp luật về trích lập và sử dụng DPRR trong hoạt động của các NHTM.
Để thực hiện được mục đích nêu trên, việc nghiên cứu đề tài có những nhiệm vụ chính như sau:
– Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về DPRR trong hoạt động của NHTM. Cụ thể, làm rõ khái niệm RRTD, khái niệm, đặc điểm DPRR của NHTM, đề cập đến những thông lệ quốc tế liên quan đến hoạt động trích lập DPRR và bài học đối với Việt Nam.
– Phân tích thực trạng quy định của pháp luật về DPRR thông qua việc so sánh quy định về vấn đề này giữa các văn bản quy phạm pháp luật, đưa ra các số liệu thực tế về trích lập, sử dụng DPRR của một số NHTM, từ đó nêu lên một số hạn chế của quy định pháp luật về DPRR.
– Từ các hạn chế của quy định pháp luật về DPRR, tác giả đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về DPRR, đồng thời kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về DPRR của các NHTM
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về DPRR trong hoạt động của NHTM, các quy định của pháp luật hiện hành về DPRR và thực tiễn thực hiện trích lập, sử dụng DPRR của NHTM.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn thạc sĩ, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu vào những nội dung cơ bản sau:
– Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về DPRR để dự phòng cho RRTD trong hoạt động của NHTM theo quy định tại Điều 131 Luật Các TCTD, không tập trung nghiên cứu đối với DPRR đối với trái phiếu đặc biệt do Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam phát hành, dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính; dự phòng nợ phải thu khó đòi và các khoản dự phòng khác (nếu có)… (theo điểm 1 khoản 2 Điều 17 Nghị định 93/2017/NĐ-CP quy định về chi trích lập dự phòng của TCTD, chi nhánh NHNN).
– Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về vấn đề DPRR đối với RRTD theo quy định tại Thông tư số 02/2013/TT-NHNN và Thông tư số 11/2021/TT-NHNN (thay thế cho Thông tư 02/2013/TT-NHNN kể từ ngày 01/10/2021), không đề cập đến các loại rủi ro khác như rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất… Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định về DPRR đối với rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất… của TCTD nói chung.
– Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu quy định về trích lập, sử dụng DPRR của trong hoạt động của NHTM, không nghiên cứu quy định về trích lập, sử dụng DPRR trong hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân, ngân hàng hợp tác xã, tổ chức tài chính vi mô, ngân hàng chính sách (TCTD phi ngân hàng, chi nhánh NHNNg áp dụng giống như NHTM).
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn lấy lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, lý luận của Đảng cộng sản Việt Nam làm phương pháp luận trong quá trình nghiên cứu đề tài. Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp luận, phân tích, so sánh, tổng hợp, diễn giải.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài luận văn mang lại những ý nghĩa về mặt lý luận cũng như thực tiễn sau đây:
– Về phương diện lý luận, bài luận văn hệ thống hóa và tổng kết những lý luận cơ bản về trích lập, sử dụng DPRR trong hoạt động của NHTM;
– Về phương diện thực tiễn, từ những phân tích về tình hình trích lập, sử dụng DPRR, so sánh quy định về DPRR giữa các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và văn bản mới được ban hành, bài luận văn chỉ ra một số bất cập của những quy định này có thể gây khó khăn cho các NHTM khi áp dụng. Qua đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về DPRR, đồng thời kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về DPRR của các NHTM.
7. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của bài luận văn thạc sĩ gồm có 03 chương chính:
Chương I: Lý luận pháp luật về dự phòng rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại.
Chương II: Thực trạng pháp luật về dự phòng rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Chương III: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về dự phòng rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
Định dạng | Link tải |