[Luận văn 2023] Pháp luật về điều kiện làm việc của lao động nữ từ thực tiễn các doanh nghiệp tại tỉnh Bình Dương – ThS. Lê Thị Kiều Oanh
Định dạng | Link tải |

Mục lục
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Tính cấp thiết của đề tài | 2 |
| 2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu | 3 |
| 2.1. Mục tiêu tổng quát | 3 |
| 2.2 Mục tiêu cụ thể | 4 |
| 2.3 Câu hỏi nghiên cứu | 4 |
| 3. Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài | 4 |
| 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu | 9 |
| 4.2. Phạm vi nghiên cứu | 9 |
| 5. Phương pháp nghiên cứu | 9 |
| 5.1. Phương pháp luận | 9 |
| 5.2. Phương pháp cụ thể | 9 |
| 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn | 10 |
| 6.1. Ý nghĩa khoa học | 10 |
| 6.2. Ý nghĩa thực tiễn | 10 |
| 7. Bố cục của luận văn | 10 |
| CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC CỦA LAO ĐỘNG NỮ | 12 |
| 1.1. Khái quát về lao động nữ và điều kiện làm việc của lao động nữ | 12 |
| 1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của lao động nữ trong quan hệ lao động | 12 |
| 1.1.2. Khái niệm về điều kiện làm việc của lao động nữ | 17 |
| 1.2. Khái quát pháp luật điều chỉnh về điều kiện làm việc của lao động nữ | 20 |
| 1.2.1. Khái niệm pháp luật điều chỉnh về điều kiện làm việc của lao động nữ | 20 |
| 1.2.2. Nội dung điều chỉnh của pháp luật về điều kiện làm việc của lao động nữ | 24 |
| Kết luận Chương 1 | 29 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC CỦA LAO ĐỘNG NỮ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG | 29 |
| 2.1. Pháp luật hiện hành về điều kiện làm việc của lao động nữ | 29 |
| 2.1.1. Quy định pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của lao động nữ | 29 |
| 2.1.2. Quy định về an toàn, vệ sinh lao động và môi trường làm việc của lao động nữ | 33 |
| 2.1.3. Quy định pháp luật về xoá bỏ cưỡng bức lao động đối với lao động nữ | 36 |
| 2.1.4. Quy định về chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với lao động nữ | 39 |
| 2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về điều kiện làm việc của lao động nữ tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương | 44 |
| 2.2.1. Áp dụng các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của lao động nữ | 44 |
| 2.2.2. Áp dụng các quy định về an toàn, vệ sinh lao động và môi trường làm việc của lao động nữ | 47 |
| 2.2.3. Áp dụng các quy về chế độ bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ | 48 |
| 2.2.4. Áp dụng các quy định xoá bỏ cưỡng bức lao động đối với lao động nữ | 49 |
| Kết luận Chương 2 | 56 |
| CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC CỦA LAO ĐỘNG NỮ | 57 |
| 3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về điều kiện làm việc của lao động nữ | 57 |
| 3.1.1. Hoàn thiện quy định pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của lao động nữ | 57 |
| 3.1.2. Hoàn thiện quy định về an toàn, vệ sinh lao động và môi trường làm việc của lao động nữ | 58 |
| 3.1.3. Hoàn thiện quy định về xoá bỏ cưỡng bức lao động đối với lao động nữ | 60 |
| 3.1.4. Hoàn thiện quy định về chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với lao động nữ | 63 |
| 3.2. Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về điều kiện làm việc của lao động nữ | 65 |
| 3.3.1. Giải pháp chung | 65 |
| 3.3.2. Giải pháp cụ thể tại Tỉnh Bình Dương | 69 |
| Kết luận Chương 3 | 72 |
| KẾT LUẬN CHUNG | 73 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | i |
Định dạng | Link tải |
Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến điều kiện làm việc của lao động nữ đã có nhiều công trình công bố từ trước thời điểm Bộ luật Lao động 2019 có hiệu lực thi hành ở nhiều cấp độ khác nhau. Cụ thể:
Đặng Thị Thơm (2016), “Quyền của lao động nữ theo pháp luật Việt Nam”, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội. Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả đã đưa khái niệm về “lao động nữ” được hiểu là người lao động có những đặc điểm riêng biệt so với lao động nam về tâm sinh lý và thể lực, mang những đặc trưng riêng về giới khi tham gia quan hệ lao động
Lại Thị Tố Quyên (2020), “Điều kiện làm việc của lao động nữ theo pháp luật lao động Việt Nam từ thực tiễn các doanh nghiệp ở thành phố Hà Nội”, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện khoa học xã hội. Từ kết quả nghiên cứu của Luận án, tác giả đã đưa ra khái niệm về “Lao động nữ” là lao động có giới tính nữ, từ đủ 15 tuổi trở lên, có giao kết hợp đồng với người sử dụng lao động, được đảm bảo đầy đủ quyền lợi, nghĩa vụ, cũng như các điều kiện khác của người lao động theo quy định của pháp luật Việt Nam” (trong một số trường hợp pháp luật cho phép thì LĐN có thể dưới 15 tuổi)”.
Lê Thị Yến Loan (2020), “Pháp luật lao động về lao động nữ từ thực tiễn các khu công nghiệp tại Tỉnh Bình Phước”, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội. Trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn, tác giả đã đưa ra khái niệm về “Người lao động nữ” là người lao động thuộc giới nữ và khi tham gia quan hệ lao động từ đủ 15 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi lao động, các quyền và nghĩa vụ của người lao động, đồng thời, được pháp luật lao động dành cho những quy định áp dụng riêng. Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích những yếu tố đặc thù của LĐN trong QHLĐ về mặt sinh lý; về sức khỏe, thể trạng; về mặt tâm lý ; từ đó cho thấy người lao động vốn là bên yếu thế trong quan hệ lao động thì lao động nữ còn yếu thế hơn so với lao động nam. Chính vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho lao động nữ, pháp luật lao động cần đảm bảo những yêu cầu về quyền bình đẳng của lao động nữ so với các lao động nam, đảm bảo việc làm và điều kiện làm việc phù hợp với thể chất, tinh thần của lao động nữ và đồng thời phải đảm bảo các quyền, lợi ích cho lao động nữ mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ.
Lê Bích Ngọc (2018), “Bảo đảm quyền của lao động nữ theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh”, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội. Luận văn đã phân tích hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo đảm quyền của LĐN tại các KCN và thực trạng bảo đảm quyền của LĐN tại các KCN tỉnh Bắc Ninh. Trên cơ sở làm rõ những kết quả đạt được trong việc bảo đảm quyền con người của LĐN tại các KCN tỉnh Bắc Ninh, từ đó đưa ra các phân tích, đánh giá được những ưu điểm và nhược điểm trong hoạt động này của tỉnh Bắc Ninh
Trần Thuý Lâm (2005), “Bảo vệ lao động nữ trong lĩnh vực kỷ luật lao động”, Tạp chí Luật học. Số Đặc san về bình đẳng giới/2005. Trong phạm vi bài viết, tác giả đã phân tích các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề bảo vệ lao động nữ trong lĩnh vực kỷ luật lao động: Cấm người sử dụng lao động xâm phạm thân thể lao động nữ khi xử lý vi phạm kỷ luật lao động; lao động nữ không bị xử lý kỷ luật trong thời gian thực hiện chức năng sinh đẻ và nuôi con; không được sa thải lao động nữ vì những lý do liên quan đến thiên chức làm vợ, làm mẹ của họ
Đỗ Ngân Bình (2006), “Bảo vệ quyền lợi của lao động nữ theo Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và pháp luật lao động Việt Nam”, Tạp chí Luật học. Số 3/2006. Qua phân tích các quy định về bảo vệ quyền lợi của lao động nữ theo CEDAW trong pháp luật lao động Việt Nam thì Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng kể trong việc ban hành và thực hiện các chính sách, pháp luật ở nhiều phương diện. Bộ luật lao động, Nghị định 23/CP, Nghị định 12/CP… là những văn bản thể hiện sự cụ thể hoá CEDAW trong điều kiện thực tế ở Việt Nam
Phạm Thị Hằng (2021), “Pháp luật về lao động nữ từ thực tiễn các doanh nghiệp tại tỉnh Bắc Giang”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Mở Hà Nội. Luận văn đã phân tích những kết quả đạt được trong việc bảo đảm quyền của LĐN, trong đó có các lao động nữ tại các các doanh nghiệp ở tỉnh Bắc Giang. Qua tìm hiểu thực trạng pháp luật hiện hành về lao động nữ thấy rằng Nhà nước ta về cơ bản đảm bảo quyền lợi cho người lao động nữ ở hầu hết các lĩnh vực từ việc làm, học nghề, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn lao động, vệ sinh lao động, kỷ luật lao động, thai sản…đều phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc bảo đảm những quyền lợi chính đáng của lao động nữ. Từ điều kiện thuận lợi về tự nhiên và cơ chế phát triển kinh tế xã hội tại tỉnh Bắc Giang khiến cho thực tiễn thi hành các quy định này các doanh nghiệp tại Bắc Giang có được những kết quả đáng kể. Tuy nhiên, ngoài những mặt tích cực đã làm được thì các quy định pháp luật liên quan đến lao động nữ vẫn tồn tại những bất cập nhất định trên thực tiễn. Thực trạng thực hiện các quy định pháp luật về lao động nữ còn nhiều vấn đề đã và đang phải đặt ra từ phía lao động nữ và người sử dụng lao động cũng như các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực lao động.
Nguyễn Thị Ngọc Khánh (2021), “Pháp luật Việt Nam về quyền của lao động nữ, qua thực tiễn tại các doanh nghiệp ở tỉnh Quảng Bình”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật, Đại học Huế. Luận văn đã phân tích những kết quả đạt được trong việc bảo đảm quyền của LĐN tại các các DN ở tỉnh Quảng Bình, từ đó đưa ra các phân tích, đánh giá được những ưu điểm và nhược điểm trong hoạt động này của tỉnh Quảng Bình từ đó làm nền tảng để xây dựng những chiến lược cụ thể, giải pháp hướng hoàn thiện cho pháp luật nói chung và đối với đối tượng LĐN ở Quảng Bình nói riêng
Nguyễn Thị Trường An (2022), “Một số vấn đề tồn tại trong quy định pháp luật về sử dụng lao động nữ nhìn từ thực tiễn tỉnh Bình Dương”, Tạp chí Công thương điện tử; truy cập tại: https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/mot-so-van-de-ton-tai-trong-quy-dinh-phap-luat-ve-su-dung-lao-dong-nu-nhin-tu-thuc-tien-tinh-binh-duong-89968.htm. Từ kết quả nghiên cứu bài viết, tác giả cho rằng: Trong quá trình sử dụng lao động nữ, người sử dụng lao động phải tuân thủ các quy định về nghĩa vụ và trách nhiệm đối với người lao động nữ theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 và các văn bản pháp lý có liên quan. Tuy nhiên, từ việc tìm hiểu thực trạng pháp luật về sử dụng lao động nữ tại các doanh nghiệp đang hoạt động tỉnh Bình Dương cho thấy, quyền lợi của người lao động nữ vẫn chưa thật sự được đảm bảo, cụ thể: (i) chính sách pháp luật về lao động và việc làm nói chung còn tồn tại nhiều điểm bất hợp lý; (ii) các chính sách về việc làm đối với người lao động nữ chưa thực sự hiệu quả và sự phân chia ngành nghề lao động; (ii) tổ chức bộ máy và việc phân quyền, cấp quyền cho các cơ quan quản lý về việc làm còn chưa hiệu quả và hợp lý; (iv) chưa có cơ chế phối hợp hoạt động giữa các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương và với các địa phương khác; (v) các trung tâm dịch vụ việc làm chưa phát huy được vai trò kết nối cung cầu lao động; (vi) chế tài xử lý cũng như hoạt động thanh tra, kiểm tra các sai phạm về sử dụng lao động nữ còn thiếu tính hợp lý, chặt chẽ, tính triệt để dẫn đến các doanh nghiệp chưa chấp hành nghiêm.
Võ Thị Trúc Mai (2018), “Pháp luật lao động về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ, qua thực tiễn tại các khu công nghiệp tỉnh Quảng Trị”. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật, Đại học Huế. . Luận văn đã phân tích & đánh giá thực trạng quy định pháp luật hiện hành quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ đã có nhiều điểm hợp lý, tạo cơ sở cho lao động nữ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia vòa quan hệ lao động. Tuy nhiên, giai đoạn hiện nay pháp luật hiện hành vẫn còn những hạn chế, bất cập tồn tại, còn những khoảng trống chưa được điều chỉnh gây ra nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ trên thực tế. Bên cạnh đó, luận văn đã phân tích thực tiễn thực hiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ trong các khu công nghiệp tại tỉnh Quảng Trị còn có nhiều bất cập.
Nguyễn Tiến Dũng (2018), “Thực trạng thực hiện pháp luật lao động đối với lao động nữ và phương hướng hoàn thiện”, Tạp chí Nghề Luật, Số Từ kết quả nghiên cứu của bài viết, tác giả đánh giá: “Lao động nữ, với tính chất là nhóm lao động đặc thù, bên cạnh việc chịu sự điều chỉnh của pháp luật lao động như những người lao động thông thường, còn chịu sự điều chỉnh của các quy định riêng. Tuy nhiên, pháp luật về lao động nữ còn có những hạn chế, bất cập, từ đó dẫn đến khó khăn trong quá trình áp dụng về các vấn đề: (i) phân biệt đối xử trong tuyển dụng đối với lao động nữ; (ii) học nghề của lao động nữ. Khi tham gia vào quan hệ học nghề với đơn vị sử dụng lao động; (iii) đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) đối với lao động nữ khi kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi; (iv) quyền lợi của lao động nữ trong việc chăm sóc sức khoẻ bản thân trong quá trình làm việc tại đơn vị sử dụng lao động; (v) xử lý kỷ luật lao động đối với lao động nữ
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu này đã làm rõ các vấn đề lý luận về điều kiện làm việc nói chung, điều kiện làm việc của lao động nữ nói riêng.
Lao động nữ là người lao động thuộc giới nữ và khi tham gia quan hệ lao động có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người lao động, đồng thời, được pháp luật lao động dành cho những quy định áp dụng riêng. Nhà nước bảo đảm quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng về mọi mặt với nam giới, có chính sách khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để người lao động nữ có việc làm thường xuyên, áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn ngày, trọn tuần, giao việc làm tại nhà. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước đến hết năm 2022 ước tính là 55,4 triệu người, trong đó, lực lượng lao động nữ trong độ tuổi lao động đạt 22,3 triệu người, chiếm 45,6% tổng số lao động trong độ tuổi của cả nước.
Bộ luật lao động năm 2019 (Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2021) với Chương X (từ Điều 135 đến Điều 142) đã dành những quy định riêng đối với lao động nữ. Các cơ quan nhà nước được giao trách nhiệm mở rộng nhiều loại hình đào tạo thuận lợi cho lao động nữ để ngoài nghề đang làm, người lao động nữ còn có thêm nghề dự phòng và để việc sử dụng lao động nữ được dễ dàng, phù hợp với đặc điểm về cơ thể, sinh lí và chức năng làm mẹ của phụ nữ. Nhà nước có chính sách ưu đãi, xét giảm thuế đối với những doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ. Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động nữ vì lí do kết hôn, có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Trong thời gian có thai, nghỉ thai sản, nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi, người lao động nữ được tạm hoãn việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, kéo dài thời hiệu xem xét xử lí kỷ luật… Người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động nữ làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh đẻ và nuôi con, theo danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu điều kiện làm việc của lao động nữ trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương thì chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện. Do đó, luận văn sẽ kế thừa các kết quả nghiên cứu và tiếp tục nghiên cứu trong bối cảnh thực tiễn của tỉnh Bình Dương các vấn đề pháp luật về điều kiện làm việc của LĐN.
Tải về tại đây để xem đầy đủ tài liệu
Định dạng | Link tải |