[Tiểu luận 2021] Để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, có ý kiến cho rằng cần thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia ở Việt Nam. Với kiến thức về Luật hiến pháp, hãy lập luận để PHẢN ĐỐI ý kiến trên (ST0100)
Định dạng | Link tải |

Mục lục
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| BẢNG ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG NHÓM | 1 |
| DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT | 2 |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| NỘI DUNG | 2 |
| Lập luận 1: Đảng và Nhà nước Việt Nam ta luôn quan tâm đến việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, để bảo đảm cho mọi người được thụ hưởng đầy đủ quyền con người | 2 |
| 1.1. Pháp luật Việt Nam về quyền con người | 2 |
| 1.1.1. Chế định quyền con người trong Hiến pháp | 2 |
| 1.1.2. Nhà nước chú trọng nâng cao chất lượng xây dựng, hoàn thiện pháp luật về quyền con người | 3 |
| 1.2. Tổ chức thực thi Hiến pháp, pháp luật và chính sách bảo đảm quyền con người | 4 |
| Lập luận 2: Việt Nam đang là thành viên của những chương trình, cơ quan, Công ước, văn kiện đảm bảo nhân quyền mà Liên Hợp Quốc và quốc tế đã thành lập | 4 |
| 2.1. Việt Nam đã tham gia hầu hết các Công ước quốc tế về quyền con người | 4 |
| 2.2. Việt Nam đã có những đóng góp, làm giàu thêm những giá trị chung của nhân loại về quyền con người | 5 |
| Lập luận 3: Việc thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia chưa phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội ở Việt Nam | 6 |
| Lập luận 4: Việc thành lập cơ quan nhân quyền sẽ ít nhiều làm hạn chế quyền bảo vệ con người của các cơ quan quyền lực nhà nước và các tổ chức thuộc hệ thống chính trị | 6 |
| Lập luận 5: Việc thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia có thể gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị xã hội | 7 |
| KẾT LUẬN | 10 |
| PHỤ LỤC | 11 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 15 |
Định dạng | Link tải |
Lời mở đầu
Nhà nước ta từ khi thành lập cho đến nay luôn tôn trọng các quyền con người, luôn coi đó là một trong những nguyên tắc xây dựng pháp luật. Việt Nam đã và đang làm rất tốt việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Nhưng lại có có ý kiến cho rằng cần thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia ở Việt Nam. Dưới đây là những lập luận Nhóm 2 Lớp 4616 đưa ra để bảo vệ cho ý kiến phản đối việc thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia ở Việt Nam.
Lập luận 1: Đảng và Nhà nước Việt Nam ta luôn quan tâm đến việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, để bảo đảm cho mọi người được thụ hưởng đầy đủ quyền con người
1.1. Pháp luật Việt Nam về quyền con người
1.1.1. Chế định quyền con người trong Hiến pháp
Nhà nước ta từ khi thành lập cho đến nay luôn luôn tôn trọng các quyền con người. Tuy nhiên, quyền con người chưa được thể chế hóa trong các Hiến pháp 1946, 1959, 1980. Với Hiến pháp 1992, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến nước ta, nguyên tắc tôn trọng các quyền con người được thể chế hóa trong đạo luật cơ bản của Nhà nước. Đến Hiến pháp 2013, chế định “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” đã được thay đổi thành “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến nước ta các quyền con người được thể chế hóa cụ thể trong 21 điều của Hiến pháp. Hiến pháp năm 2013 gồm 11 chương, 120 điều, trong đó riêng Chương II có 36 điều quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Điều đáng lưu ý, các nội dung liên quan đến quyền con người không chỉ được quy định trong Chương II mà còn được đưa vào nhiều chương khác của Hiến pháp nhằm tạo cơ sở pháp lý cao nhất để mọi người được thụ hưởng, thực hiện và bảo vệ quyền con người của mình.
So với Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013 có những sửa đổi, bổ sung và phát triển quan trọng về quyền con người ở một số điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, Chủ thể về quyền con người
+ Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001) quyền con người gắn chặt với quyền công dân và thể hiện trong các quyền công dân, tại Điều 50 Hiến pháp 1992 : “Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”. Ở Hiến pháp 2013, các chủ thể của quyền con người thuộc về tất cả mọi người chứ không chỉ là công dân. Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp 2013 :“Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Việc ghi nhận có ý nghĩa quan trọng trong việc nội luật hóa các công ước quốc tế, phù hợp với xu thế hội nhập và phát triển, tránh được sự nhầm lẫn giữa quyền con người và quyền công dân .
+ Khác với Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013 đã thay thế thuật ngữ “mọi công dân” bằng thuật ngữ “mọi người” trong nhiều điều luật quy định về quyền của cá nhân nhằm khẳng định tính pháp lý của các quyền được Hiến pháp thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ. Ví dụ: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật (khoản 1 Điều 16);…
Thứ hai, Hiến pháp 2013 bổ sung thêm một số quyền mới mang tính thực tế, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, thể hiện vai trò làm chủ thực chất của người dân. Ví dụ: Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường (Điều 43);…
Thứ ba, Hiến pháp năm 2013 khẳng định và làm rõ hơn các nguyên tắc hạn chế quyền con người
Điều 14:
- Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.
- Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.
1.1.2. Nhà nước chú trọng nâng cao chất lượng xây dựng, hoàn thiện pháp luật về quyền con người
Chỉ tính từ khi Hiến pháp 2013 đến nay, công tác cải cách pháp luật, hoàn thiện thể chế, chính sách được đẩy mạnh với hơn 100 luật, bộ luật có liên quan đến quyền con người được ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung[1]. Việc xây dựng các đạo luật theo nguyên tắc tôn trọng và bảo đảm quyền con người, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật được tiến hành công khai, minh bạch, dân chủ, công bố rộng rãi, lấy ý kiến đóng góp của nhân dân và chỉnh lý trên cơ sở các ý kiến đóng góp của nhân dân.
1.2. Tổ chức thực thi Hiến pháp, pháp luật và chính sách bảo đảm quyền con người
+ Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, các cấp chính quyền địa phương,… thường xuyên tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện pháp luật; kịp thời ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm quyền con người, quyền công dân[2].
+ Xây dựng và củng cố các thiết chế bảo đảm con người[3].
+ Việc giáo dục, nâng cao nhận thức pháp luật về quyền con người cho các tầng lớp nhân dân được Việt Nam đặc biệt chú trọng[4].
+ Nhà nước triển khai nhiều chương trình kinh tế – xã hội lớn nhằm bảo đảm và nâng cao chất lượng thụ hưởng các quyền con người của mọi người dân[5].
Lập luận 2: Việt Nam đang là thành viên của những chương trình, cơ quan, Công ước, văn kiện đảm bảo nhân quyền mà Liên Hợp Quốc và quốc tế đã thành lập
2.1. Việt Nam đã tham gia hầu hết các Công ước quốc tế về quyền con người
– Bốn Công ước quốc tế Genève về bảo hộ nạn nhân chiến tranh, đối xử nhân đạo với tù nhân chiến tranh năm 1957;
– Năm 1981, gia nhập Công ước quốc tế về xóa bỏ các hình thức phân biệt chủng tộc và ký Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ;
– Năm 1990, Việt Nam ký và phê chuẩn Công ước về quyền trẻ em;
– Trong năm 2013 và 2014, Việt Nam phê chuẩn Công ước về chống tra tấn và Công ước về quyền của người khuyết tật; …
Việc Việt Nam tham gia vào các Công ước đảm bảo nhân quyền mà Liên Hợp Quốc (LHQ) và quốc tế thành lập đã có thể đáp ứng được một số chức năng, nhiệm vụ của cơ quan nhân quyền (CQNQ); dựa vào đó nước ta không cần thành lập cơ quan chuyên trách để đảm bảo vấn đề nhân quyền. Ví dụ:
Thứ nhất, thúc đẩy và đảm bảo sự tương thích của pháp luật quốc gia với các văn kiện pháp lý quốc tế và áp dụng chúng một cách hiệu quả.
Thứ hai, khuyến khích được việc phê chuẩn, gia nhập và áp dụng các văn kiện quốc tế về quyền con người.
Thứ ba, giúp Việt Nam đóng góp ý kiến xây dựng các báo cáo quốc gia trình lên các uỷ ban và cơ quan LHQ cũng như các cơ quan khu vực.
Thứ tư, điều đó sẽ giúp nước ta hợp tác với LHQ, các cơ quan của LHQ, các cơ quan khu vực và các cơ quan quốc gia về thúc đẩy và bảo vệ quyền con người của các nước khác.
2.2. Việt Nam đã có những đóng góp, làm giàu thêm những giá trị chung của nhân loại về quyền con người
– Năm 2017, Hội đồng Nhân quyền LHQ thông qua 2 dự thảo nghị quyết do Việt Nam là đồng tác giả. Nghị quyết về biến đổi khí hậu do Việt Nam, Philippines và Bangladesh là đồng tác giả tập trung vào tác động của biến đổi khí hậu đối với việc thụ hưởng quyền của người di cư và di dân qua biên giới, quyết định tổ chức tọa đàm về chủ đề: “Quyền con người, biến đổi khí hậu, người di cư và di dân qua biên giới” (tháng 12/2017).
– Việt Nam còn tham gia đồng bảo trợ các nghị quyết về đóng góp của phát triển thụ hưởng quyền con người, xóa bỏ phân biệt đối xử đối với người bệnh phong và gia đình. Việt Nam phối hợp cùng Australia, Đức, Madagascar và Fiji tổ chức thành công sự kiện bên lề về chủ đề: “Thúc đẩy và bảo vệ quyền của phụ nữ ven biển trong biến đổi khí hậu”.
– Trong năm 2021 kết thúc khoá họp thường kỳ lần thứ 46 Hội đồng Nhân quyền LHQ với 51 phiên họp được tổ chức tại trụ sở LHQ tại Geneva (Thuỵ Sỹ).
– Việt Nam với tư cách ứng viên của ASEAN, tham gia ứng cử thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025, với mong muốn đóng góp nhiều hơn nữa vào các nỗ lực chung của thế giới nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền người.
– Việt Nam được thông qua Nghị quyết về đảm bảo tiếp cận công bằng, kịp thời và toàn cầu với giá cả hợp lý của tất cả các quốc gia đối với vaccine phòng chống đại dịch COVID-19.
[1] Phụ lục 1
[2] Phụ lục 2
[3] Phụ lục 3
[4] Phụ lục 4
[5] Phụ lục 5
Tải về để xem đầy đủ tài liệu
Định dạng | Link tải |