[Luận án 2020] Chính sách pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội – ThS. Huỳnh Thị Kim Ánh
Định dạng | Link tải |

Định dạng | Link tải |
Các công trình nghiên cứu về chính sách pháp luật, chính sách hình sự và chính sách pháp luật tố tụng hình sự
Ở Việt Nam, có nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận án. Trước hết là giáo trình, tài liệu chuyên khảo các môn Luật hình sự, Luật Tố tụng hình sự, Luật thi hành án hình sự, Tội phạm học, Chiến thuật điều tra hình sự và Phương pháp điều tra hình sự, Tâm lý học tội phạm đã đề cập đến những vấn đề cơ bản về CSHS. Ngoài ra, có nhiều đề tài khoa học, Luận án tiến sĩ, Luận văn thạc sĩ và các bài viết nghiên cứu về CSHS nói chung và CSHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng. Có thể dẫn ra một số công trình đã công bố theo các nhóm vấn đề nghiên cứu, cụ thể:
Các công trình nghiên cứu về chính sách pháp luật, chính sách hình sự:
Cho đến thời điểm hiện tại, việc nghiên cứu về chính sách pháp luật vẫn mới chỉ là định hướng và bắt đầu được triển khai, nên vẫn chưa có nhiều công trình được công bố, mặc dù được các tác giả quan tâm ngày càng nhiều. Tuy vậy, các nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở các khía cạnh cụ thể của chính sách pháp luật và chỉ đi vào nghiên cứu các loại chính sách pháp luật cụ thể như: chính sách hình sự, chính sách pháp luật môi trường, chính sách đất đai… Nghiên cứu toàn diện, tổng thể về chính sách pháp luật hiện nay chỉ có Giáo trình sau đại học ―Chính sách pháp luật‖ của GS.TS Võ Khánh Vinh [92] xuất bản năm 2020. Giáo trình đề cập nhiều nội dung về chính sách pháp luật dưới góc độ một ngành khoa học, một môn học. Đặc biệt, giáo trình đã làm rõ những vấn đề lý luận về chính sách pháp luật (định nghĩa, các dấu hiệu, khách thể, các mục tiêu, nguyên tắc, các phương tiện của chính sách pháp luật…). Luận án của NCS chủ yếu dựa trên những nội dung lý luận trong tài liệu này.
Về chính sách hình sự, đã được sự quan tâm nghiên cứu rất nhiều nên các công trình nghiên cứu đề cập đến CSHS với tính cách là một tổng thể như: sách ―Luật hình sự Việt Nam‖ của GS. TSKH Đào Trí úc [75]; ―Một số vấn đề cơ bản về chính sách hình sự dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội IX của Đảng‖ của GS. TS Hồ Trọng Ngũ [54]; Báo cáo ‗’Những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam” của GS. TSKH Lê Cảm [22]. Hay như “Báo cáo kết quả hội thảo hoàn thiện luật pháp, chính sách hình sự trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế‖ của Bộ Tư pháp phối hợp với Dự án VIE 02/015 tổ chức năm 2008… Trong các công trình này, những khái niệm cơ bản trong CSHS được xem xét, có giá trị về học thuật cao, chẳng hạn vấn đề tội phạm hóa, phi tội phạm hóa, hình sự hóa, phi hình sự hóa, về các nguyên tắc quyết định hình phạt, đường lối xét xử trong những trường hợp tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự… Tuy nhiên, vẫn chưa có được cái nhìn hệ thống về CSHS vì CSHS chỉ là một trong rất nhiều vấn đề mà các tác giả nghiên cứu. Việc xem xét, đánh giá vai trò, vị trí, về thực trạng của CSHS và những vấn đề đặt ra không thể cho kết quả tốt nếu chỉ dựa vào những mặt, những bộ phận riêng rẽ của CSHS.
Sách chuyên khảo Sau đại học: “Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự – Phần chung” của GS.TSKH Lê Cảm [23] đã trình bày và làm rõ những vấn đề có liên quan đến CSHS như khái niệm, mục đích, đặc điểm và các bộ phận cấu thành của CSHS; Những cơ sở khoa học và thực tiễn của việc hoạch định CSHS trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền; Nội dung chủ yếu của CSHS. Đặc biệt, tác giả phân tích đưa ra một số kết luận mang tính định hướng và gợi mở những vấn đề cần tiếp tục triển khai nghiên cứu gồm: cơ sở khoa học và thực tiễn của việc hoạch định CSHS trong giai đoạn hiện nay; tiếp tục nghiên cứu để phát hiện những điểm còn hạn chế trong quy định của BLHS, Bộ luật TTHS, Luật thi hành án hình sự…
Đều khẳng định CSHS với tính chất là hệ thống các quan điểm, đường lối, chủ trương, định hướng chiến lược của Đảng và Nhà nước chỉ đạo trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm, sách chuyên khảo ―Chính sách hình sự trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam” do Tiến sĩ Phạm Văn Lợi chủ biên [45] và Luận án tiến sĩ luật học của Phạm Thư hoàn thành năm 2005 “Chính sách hình sự và việc thực hiện chính sách hình sự ở nước ta‖ [66] đã khẳng định rằng: CSHS có quan hệ và gắn bó mật thiết với việc xây dựng và thực hiện chính sách pháp luật, chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và chịu sự tác động, chi phối của các chính sách này. Đồng thời, CSHS trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền là những nhằm xây dựng, hoàn thiện pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật thi hành án hình sự, cũng như thực tiễn áp dụng, soạn thảo và triển khai các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm. CSHS là hạt nhân cơ bản của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. CSHS thống nhất, phối hợp hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân vào mục đích khắc phục, hạn chế và loại trừ tội phạm ra khỏi xã hội, đảm bảo sự thống nhất giữa ý chí của giai cấp cầm quyền với pháp luật nhà nước, giữa pháp luật với việc áp dụng pháp luật đó trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Đây là công trình khoa học có giá trị, cung cấp những luận cứ khoa học cho việc giải quyết những nội dung lý luận của đề tài luận án.
Trong các chuyên khảo ―Quvền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội‖ do GS. TS Võ Khánh Vinh chủ biên [78]; ―Những vấn đề lý luận và thực tiễn của nhóm quyền dân sự và chính trị‖ do GS. TS Võ Khánh Vinh [79];
―Cơ chế quốc tế và khu vực về quyền con người‖ do GS. TS Võ Khánh Vinh và TS. Lê Mai Thanh chủ biên [81], các tác giả đã bàn về quyền con người theo phương pháp tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội, trong đó nhấn mạnh quyền con người (gồm quyền của NCTN phạm tội) là hướng nghiên cứu vừa mang tính cơ bản, vừa mang tính cấp bách, thời sự, nhạy cảm; vừa có ý nghĩa tư tưởng – lý luận và thực tiễn rất quan trọng. Nhận thức này là nền tảng định hướng cho việc giải quyết và làm sáng tỏ các nội dung của đề tài luận án theo phương pháp tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội mà cụ thể là liên ngành luật học và chính sách công.
Ngoài ra, chính sách pháp luật và CSHS được nghiên cứu, trình bày trong rất nhiều các bài báo, tạp chí, như: ―Tiếp tục hoàn thiện chính sách hình sự phục vụ cho quá trình đổi mới và xu thế hội nhập ở nước ta hiện nay‖, Phạm Hồng Hải, tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6 năm 2002; ―Tìm hiểu chính sách hình sự trong xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa‖, Phùng Thế Hùng, tạp chí Cảnh sát nhân dân, năm 2004; ―Đổi mới chính sách hình sự – định hướng cho việc hoàn thiện Bộ luật hình sự năm 1999‖, Lê Thị Sơn, tạp chí Luật học, số 08 năm 2007;―Về sự thay đổi của chính sách hình sự và vấn đề xung đột quan điểm trong việc áp dụng pháp luật‖, Nguyễn Minh Hải, tạp chí Tòa án nhân dân, số 4 năm 2010; ―Về môn học: Chính sách pháp luật‖, Võ Khánh Vinh, Tạp chí Nguồn nhân lực, số 9/2015;
―Đời sống pháp luật – khách thể của chính sách pháp luật‖, Võ Khánh Vinh, Tạp chí Nguồn nhân lực, số 10/2015; ―Chính sách pháp luật: khái niệm và các dấu hiệu‖, Võ Khánh Vinh, Tạp chí Nguồn nhân lực, số 11/2015; ―Các mục tiêu, các ưu tiêu và các nguyên tắc của chính sách pháp luật Việt Nam hiện nay‖, Võ Khánh Vinh, tạp chí Nguồn nhân lực, số 12/2015; ―Các phương tiện của chính sách pháp luật‖, Võ Khánh Vinh, tạp chí Nguồn nhân lực, số 3/2016; ―Chính sách xây dựng pháp luật – một loại chính sách pháp luật và một hình thức thực hiện chính sách pháp luật‖, Võ Khánh Vinh, tạp chí Nguồn nhân lực, số 7/2016; ―Quan niệm tổng thể về chính sách xây dựng pháp luật ở Việt Nam‖, Võ Khánh Vinh, tạp chí Nguồn nhân lực, số 9 và số 10/2017; ―Chính sách hình sự thể hiện trong Bộ luật hình sự năm 2015‖, Đào Trí Úc, tạp chí Khoa học pháp lý số 1(104) năm 2017; …
Các bài viết trên đã nghiên cứu, phân tích nhiều khía cạnh khác nhau về CSPL, CSHS của nhà nước ta. Nội dung các bài viết đã khẳng định sự cần thiết của việc tiếp tục đổi mới và hoàn thiện CSHS của Nhà nước cho phù hợp với bối cảnh, xu thế hội nhập quốc tế. Bên cạnh đó, một số tác giả đã khẳng định việc đổi mới và hoàn thiện CSHS trong giai đoạn hiện nay phải hướng tới mục tiêu nâng cao hơn nữa hiệu quả của hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác phòng ngừa tội phạm. CSHS phải được xây dựng và hoàn thiện trên các lĩnh vực lập pháp hình sự, lập pháp tố tụng hình sự, áp dụng pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và phòng ngừa tội phạm.
Các công trình nghiên cứu về chính sách pháp luật tố tụng hình sự
Hiện nay trong khoa học pháp lý, CSPLTTHS chưa được quan tâm nghiên cứu nên cho đến nay, chưa có công trình nào đề cập trực tiếp và đầy đủ về vấn đề này. CSPLTTHS được xem là một bộ phận của CSHS, do vậy chủ yếu nội dung này được trình bày trong các tài liệu về lý luận CSHS của Nhà nước ta (như đã trình bày ở trên).
Như vậy, ở trong nước, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu khác nhau trong đó trực tiếp hoặc gián tiếp có đề cập đến những vấn đề thuộc nội dung của CSHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Đây là những công trình có giá trị khoa học và thực tiễn cao. Tuy nhiên, mỗi công trình lại khai thác sâu về những khía cạnh nhất định của CSHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, trong đó chỉ chú trọng nhấn mạnh về chính sách pháp luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội mà chưa quan tâm nhiều đến CSPLTTHS đối với nhóm đối tượng phạm tội này. Ngoài ra, một số nội dung mà các công trình này tiến hành phân tích, lý giải đến nay không còn phù hợp với bối cảnh của tình hình mới, đặt ra yêu cầu cần phải được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện. Những vấn đề này sẽ được tiếp tục nghiên cứu, trình bày trong luận án.
Các công trình nghiên cứu về chính sách pháp luật tố tụng hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Chính sách pháp luật tố tụng hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là một nội dung thuộc CSPLTTHS của Nhà nước. Tuy vậy, hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách trực tiếp, toàn diện về vấn đề này. Các công trình chủ yếu nghiên cứu về CSHS nói chung và chính sách pháp luật hình sự nói riêng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội hoặc các công trình đi vào nghiên cứu trực tiếp các quy định của pháp luật tố tụng hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, bảo vệ quyền và lợi ích của người dưới 18 tuổi phạm tội trong tố tụng hình sự Việt Nam. Do vậy, trong quá trình nghiên cứu, NCS tập hợp và khái quát tài liệu theo hai nhóm sau:
Các công trình nghiên cứu về CSHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Dưới góc độ lý luận, “Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội‖ thuộc Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của GS.TS Võ Khánh Vinh [90]: đã phân tích những căn cứ cho việc nhà làm luật quy định một chương “Biệt lệ” trong BLHS với mức độ chênh lệch, giảm nhẹ đáng kể so với nguyên tắc chung để làm chuẩn mực xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội. Tác giả nhận định, quan điểm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tuy đã được thừa nhận và thể hiện một cách nhất quán trong BLHS hiện hành, song vẫn còn gặp phải những ý kiến đối lập, như: trong xu thế trẻ hóa đội ngũ lao động quốc gia và việc phát triển sớm khả năng nhận thức, tâm lý ở người dưới 18 tuổi, thì cần hạ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với họ, bằng cách này sẽ xuất hiện xu hướng hình sự hóa một loạt các hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi.
―Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội‖ thuộc Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của GS.TS Võ Khánh Vinh [77]: đã luận giải các đặc điểm tâm sinh lý, xã hội khác biệt nhất định liên quan đến trách nhiệm hình sự của người dưới 18 tuổi phạm tội. Tác giả khẳng định, người dưới 18 tuổi phạm tội là nhóm chủ thể đặc biệt so với nhóm chủ thể là người đã thành niên. Từ yêu cầu của nguyên tắc nhân đạo và nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự, việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội vừa phải tuân thủ quy định về xử lý tội phạm nói chung, vừa phải tuân thủ các quy định được xây dựng phù hợp với đặc thù của người dưới 18 tuổi phạm tội. Đây chính là cơ sở để việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội vừa đảm bảo tính nghiêm khắc của việc xử lý về hình sự, vừa phát huy hiệu quả giáo dục đối với nhóm chủ thể này. Chính vì vậy, chính sách xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội luôn là vấn đề được ghi nhận và thực hiện trong pháp luật hình sự nước ta. Đây là những luận cứ khoa học, định hướng cơ bản cho việc tiếp cận giải quyết các nội dung của đề tài luận án.
Luận án tiến sĩ luật học của Hoàng Minh Đức hoàn thành năm 2016 ―Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay‖ [31] đã khẳng định CSHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là hệ thống các quan điểm, phương hướng có tính chỉ đạo, chiến lược của Đảng và Nhà nước trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, trong việc sử dụng hệ thống pháp luật hình sự đó vào thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện, nhằm phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật các loại tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện. Luận án đã giải quyết cơ bản các nội dung về lý luận, quy định của pháp luật hình sự cũng như thực tiễn thực thi CSHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ở Việt Nam, từ đó đề xuất những giải pháp cụ thể cho việc hoạch định và tổ chức thực thi CSHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Như vậy, đây là công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện về CSHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Tuy nhiên luận án này chỉ mới tập trung chủ yếu vào chính sách pháp luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (chính sách tội phạm và hình phạt) mà chưa đề cập đến CSPLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Ngoài ra, nội dung về CSHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được đề cập trong rất nhiều các bài viết khoa học, có thể kể đến những bài viết tiêu biểu sau: “Một số ý kiến về CSHS đối với NCTN phạm tội trong Bộ luật hình sự năm 1999”, Nguyễn Mai Bộ, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4/2001; ―CSHS đối với NCTN phạm tội thể hiện trong Bộ luật hình sự năm 1999″ của tác giả Ngô Duy Hiểu, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 11/2001; ―CSHS đối với NCTN phạm tội của một số nước trên thế giới và liên hệ ở Việt Nam‖, Hoàng Minh Đức, tạp chí Khoa học giáo dục Cảnh sát nhân dân, số 67 năm 2015; …
– Các công trình nghiên cứu về CSPLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Dưới góc độ khoa học pháp lý tố tụng hình sự, CSPLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội chưa được quan tâm nghiên cứu. Những nội dung liên quan đến vấn đề này mới chỉ được đề cập, trình bày chủ yếu trong hệ thống các giáo trình Luật tố tụng hình sự dành cho hệ đại học của các cơ sở đào tạo như: 1) PGS. TS Hoàng Thị Minh Sơn và TS. Phan Thị Thanh Mai, Chương II – Nhiệm vụ và các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự, trong sách: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2011; 2) PGS. TS Hoàng Thị Minh Sơn, Chương XIII – Thủ tục tố tụng đối với NCTN phạm tội, trong sách: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2011.
Ở cấp độ luận án tiến sĩ, chưa có công trình nào nghiên cứu về CSPLTTHS đối với người dưới 18 phạm tội. Những nội dung về vấn đề này, có thể đề cập đến những công trình sau đây:
Luận án tiến sĩ “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về thủ tục tố tụng đối với NCTN trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam” của Đỗ Thị Phượng hoàn thành năm 2008 [56]. Đây là luận án đầu tiên nghiên cứu hệ thống và hoàn chỉnh về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong luật tố tụng hình sự Việt Nam. Tuy nhiên, nội dung trọng tâm của luận án chỉ mới nghiên cứu về các quy định của pháp luật về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, chưa nghiên cứu về CSPLTTHS đối với nhóm đối tượng này. Những nội dung mà luận án trình bày sẽ được NCS kế thừa trong việc phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Luận án tiến sĩ ―Đảm bảo quyền của NCTN trong tố tụng hình sự ở Việt Nam‖ của Lê Minh Thắng hoàn thành năm 2012 [62] đã phân tích làm rõ phạm vi quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội và bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự Việt Nam. Trên cơ sở đánh giá thực trạng bảo vệ quyền của người dưới 18 tuổi, luận án đưa ra quan điểm và giải pháp để bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự. Có thể thấy, đây là những quan điểm có giá trị trong việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi CSPLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong giai đoạn hiện nay, sẽ được NCS kế thừa và làm sâu sắc hơn trong luận án này.
Luận án tiến sĩ luật học ―Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam‖ của Trần Hưng Bình hoàn thành năm 2013 [15] đã luận giải và làm rõ khái niệm, đặc điểm về người dưới 18 tuổi, từ đó đưa ra khái niệm “Quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi” và “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi trong TTHS”. Luận án cũng nghiên cứu các phương thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi tại một số quốc gia, đối chiếu các tiêu chí bảo đảm, bảo vệ trong tư pháp hình sự quốc tế với các quy định Bộ luật TTHS năm 2003 về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi, luận án đã đưa ra ba nhóm giải pháp nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể đặc thù này. Mặc dù không trực tiếp trình bày về CSPLTTHS nhưng các giải pháp này rất có ý nghĩa khi nghiên cứu để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật tố tụng hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, một trong những nội dung quan trọng của CSPLTTHS.
Luận án tiến sĩ luật học ―Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là NCTN trong tố tụng hình sự Việt Nam‖ của Nguyễn Hữu Thế Trạch hoàn thành năm 2014 [73] đã làm rõ được những vấn đề lý luận về quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi trong TTHS Việt Nam; đánh giá vai trò của quyền bào chữa và xác định rõ những đặc điểm về nội dung và hình thức thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi trong TTHS Việt Nam. Luận án cũng khái quát được quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi, phân tích được thực trạng và làm rõ những bất cập trong áp dụng pháp luật về quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi. Qua đó, tác giả nêu ra nhiều giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và đảm bảo tốt nhất quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến việc thành lập Tòa án NCTN.
Cấp độ chuyên khảo, ―Tư pháp hình sự NCTN ở Việt Nam hiện nay, một số vấn đề lý luận và thực tiễn‖ của Trần Quang Thông và Hoàng Minh Đức [65]: Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này. Trên cơ sơ lý luận về tư pháp nói chung, tư pháp hình sự nói riêng, các tác giả đưa ra khái niệm về tư pháp hình sự người dưới 18 tuổi, đó là việc thực hiện quyền lực nhà nước thông qua hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và các hoạt động bổ trợ tư pháp. Chuyên khảo cũng đề cập những đặc điểm, những mục tiêu và nguyên tắc cơ bản của tư pháp hình sự người dưới 18 tuổi. Đây là những nội dung lý luận cơ bản mà NCS có thể kế thừa, làm rõ thêm trong luận án của mình.
Ngoài ra, liên quan đến CSPLTTHS và pháp luật tố tụng hình sự đối với người dưới 18 tuổi, còn nhiều bài viết trên các tạp chí chuyên ngành. Có thể liệt kê một số bài viết tiêu biểu sau: ―Thủ tục tố tụng khi xét xử người thành niên mà khi phạm tội họ là NCTN‖, Phạm Thanh Điền, tạp chí Toà án nhân dân, số 4/2003; ―Những vấn đề cần phải được chứng minh trong vụ án mà bị can, bị cáo là NCTN‖, Vũ Hồng Thêm, tạp chí Toà án nhân dân, số 17/2004; ―Tư pháp hình sự đối với NCTN: Những khía cạnh pháp lý hình sự, tố tụng hình sự, tội phạm học và so sánh luật học‖, Lê Cảm, Đỗ Thị Phượng, tạp chí Toà án nhân dân, số 20, 21, 22/2004; ―Áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam đối với NCTN phạm tội‖, Mai Bộ, tạp chí Toà án nhân dân, số 5/2006; ―Áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với NCTN phạm tội‖, Nguyễn Đức Mai, tạp chí Kiểm sát, số 6/2007; “Vấn đề bảo đảm quyền bào chữa của NCTN phạm tội”, Phan Trung Hoài, tạp chí Kiểm sát, số 6/2007; ―Hệ thống điều tra thân thiện với NCTN”, Phạm Văn Hùng, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 20/2008; ―Hoàn thiện quy định của pháp luật nhằm bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo chưa thành niên‖, Nguyễn Hải Ninh, tạp chí Luật học, số 11/2009; ―Về một số chế định pháp lý liên quan đến NCTN phạm tội trong luật hình sự và luật tố tụng hình sự Cộng hoà Pháp‖, Trần Văn Dũng, tạp chí Toà án nhân dân, số 19/2008; ―Toà án gia đình và NCTN: các mô hình trên thế giới và việc nghiên cứu thành lập ở Việt Nam‖, Trần Hoài Nam, Tường An, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 7/2010; ―Cần sớm sửa đổi, bổ sung chương XXXII Bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với NCTN‖, Nguyễn Trung Hoan, tạp chí Kiểm sát, số 19/2010; ―Hoàn thiện một số quy định của pháp luật tố tụng hình sự về NCTN phạm tội‖, Ngô Sỹ Quý, tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 11/2011; ―Bảo vệ quyền con người của NCTN bị buộc tội trong tố tụng hình sự‖, Trần Hưng Bình, tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1/2013; ―Thủ tục tố tụng thân thiện đối với bị can, bị cáo là NCTN‖, Nguyễn Hữu Thế Trạch, tạp chí Khoa học pháp lý, số 3/2013; ―Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về thủ tục tố tụng đối với NCTN phạm tội‖, Vũ Văn Hùng, Huỳnh Thị Kim Ánh, tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12/2013; ―Cần xây dựng môi trường tố tụng thân thiện đối với NCTN phạm tội‖, Lê Thị Nga, tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 4/2014; ―Các yêu cầu đặt ra đối với việc thành lập tòa án NCTN‖, Nguyễn Đức Mai, tạp chí Tòa án nhân dân, số 16/2014; ―Mô hình tư pháp NCTN theo định hướng của Liên hợp quốc‖, Lê Huỳnh Tấn Duy, tạp chí Khoa học pháp lý, số 05/2014; ―Một số góp ý về thủ tục tố tụng đối với NCTN trong Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi)‖, Võ Thị Kim Dung, Lê Thị Thùy Dương, tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11/2015; ―Xử lý chuyển hướng đối với NCTN phạm tội theo pháp luật một số nước trên thế giới và pháp luật Việt Nam‖, Trần Thị Minh Thư, tạp chí Kiểm sát, số 9/2014; ―Hoàn thiện CSHS nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân của NCTN phạm tội theo Hiến pháp năm 2013‖, Hoàng Minh Khôi, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 14/2015;
―Thành lập “Tòa gia đình và NCTN”- Một phương thức thực hiện nguyên tắc hiến định và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn‖, Hồng Phong Minh, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9/2014; ―Mô hình tư pháp NCTN theo định hướng của liên hợp quốc‖, Lê Huỳnh Tấn Duy, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 5/2014; ―Một số điểm mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi ( kỳ 1)‖, Trần Thị Thu Hiền, Nguyễn Phương Anh, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 20/2016; ―Một số điểm mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi ( kỳ 1)‖, Trần Thị Thu Hiền, Nguyễn Phương Anh, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 21/ 2016; …
Tuy có rất nhiều bài viết về NCTN phạm tội trong tố tụng hình sự ở nhiều khía cạnh khác nhau, có thể là quyền của NCTN phạm tội và vấn đề bảo vệ quyền, về thủ tục tố tụng hình sự đối với NTCN phạm tội, về mô hình tố tụng thân thiện với NCTN… nhưng chưa có bất kì bài viết nào trình bày trực tiếp về CSPLTTHS đối với NCTN phạm tội hay đánh giá về CSPLTTHS hiện hành đối với nhóm người phạm tội này.
Định dạng | Link tải |