[Luận văn 2020] Pháp luật về hòa giải thương mại trong giải quyết tranh chấp thương mại ở Việt Nam – ThS. Dương Trần Minh
Định dạng | Link tải |

Định dạng | Link tải |
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Sau quá trình hơn 30 năm đổi mới, kinh tế Việt Nam đã hội nhập sâu rộng vào hệ thống thương mại toàn cầu. Quan hệ thương mại của Việt Nam ngày càng được mở rộng đóng góp quan trọng vào quá trình đổi mới đất nước về cả kinh tế, văn hóa, xã hội. Bên cạnh đó, các tranh chấp thương mại giữa các doanh nghiệp nội địa với nhau, giữa các doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài cũng nảy sinh và ngày càng đa dạng, phức tạp. Thực tiễn này đặt ra yêu cầu chuyển đổi của các quy định pháp luật Việt Nam hiện nay nhằm xây dựng các cơ chế, cách thức giải quyết tranh chấp thương mại hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, tạo điều kiện cho hoạt động thương mại phát triển một cách ổn định.
Theo quy định luật pháp ở nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay, việc giải quyết tranh chấp thương mại có thể thông qua Toà án, Trọng tài hoặc các hình thức khác như thương lượng, hòa giải. Việc quy định nhiều phương thức giải quyết tranh chấp thương mại một phần tạo sự lựa chọn cho các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Toà án, nâng cao chất lượng xét xử. Trong đó, việc giải quyết tranh chấp theo phương thức hòa giải (hòa giải ngoài tố tụng cũng như hòa giải trong tố tụng) có nhiều ưu điểm và được áp dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Phương thức hòa giải nhằm giải quyết tranh chấp thay thế (Alternative Dispute Resolution – ADR) một mặt tiết kiệm nguồn lực, đảm bảo bí mật kinh doanh, giữ được mối quan hệ hữu hảo giữa các đối tác có tranh chấp, mặt khác chia sẻ áp lực, khối lượng công việc cho Tòa án. Do vậy, phương thức này được luật pháp của nhiều quốc gia cũng như các định chế, điều ước quốc tế công nhận là công cụ giải quyết tranh chấp, nhất là tranh chấp thương mại.
Ở Việt Nam, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 ra đời là dấu mốc quan trọng về nỗ lực cải cách trong hoạt động xét xử và giải quyết các tranh chấp. Nghị quyết 49 nêu rõ “Khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng hòa giải trọng tài, tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó”. Tiếp đó là sự ra đời của nhiều văn bản luật có liên quan quy định mang tính nguyên tắc về việc áp dụng hòa giải để giải quyết vấn đề tranh chấp thương mại. Năm 2017, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại được Chính phủ ban hành Nghị định này quy định “Hòa giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại do các bên thỏa thuận và được hòa giải viên thương mại làm trung gian hòa giải hỗ trợ giải quyết tranh chấp theo quy định của Nghị định này”.
Nghị định số 22/2017/NĐ-CP đã xác định khá rõ bản chất của hoạt động hòa giải thương mại, thể hiện được quan điểm, thái độ của Nhà nước đối với hòa giải thương mại. Nghị định này cũng đã xác định khá rõ địa vị pháp lý của chủ thể hòa giải thương mại và cụ thể hoá cam kết mở cửa thị trường dịch vụ hòa giải. Bên cạnh đó văn bản quan trọng này có những quy định khá hợp lý về trình tự, thủ tục hòa giải thương mại làm cơ sở để các bên tranh chấp, hòa giải viên thương mại tiến hành giải quyết tranh chấp và về kết quả hòa giải thành. Mặt khác, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP chưa làm rõ được các vấn đề như nguyên tắc hòa giải, chủ thể hòa giải, vấn đề hợp đồng hòa giải, vấn đề cung cấp thông tin, tài liệu và bảo mật thông tin, tài liệu trong hoạt động hòa giải, thù lao và chi phí hòa giải cũng như kết quả hòa giải thành.
Những điểm nghẽn về mặt pháp lý nói trên khiến cho việc đẩy mạnh hòa giải tranh chấp thương mại gặp nhiều khó khăn, từ đó gây nên những tốn kém cho doanh nghiệp, xã hội. Những rào cản này còn khiến các doanh nghiệp trong nước gặp nhiều bất lợi khi nảy sinh tranh chấp, bất đồng với các đối tác nước ngoài, ảnh hưởng đến quá trình hội nhập sân chơi thương mại toàn cầu của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam.
Việc hoàn thiện các quy định pháp luật về hòa giải ở Việt Nam hiện nay không những góp phần bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự đang có tranh chấp kinh tế, của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến tranh chấp, mà còn bảo đảm cả lợi ích của Nhà nước và của xã hội. Hòa giải thành có tác động làm cho các bên tranh chấp tự nguyện, tự giác thi hành quyết định công nhận sự thoả thuận của họ, tránh việc phải sử dụng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước trong quá trình thi hành án. Đồng thời, vụ việc tranh chấp cũng không phải xử đi xử lại nhiều lần, giảm bớt tốn kém về nhiều mặt cho các bên.
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả chọn đề tài “Pháp luật về hòa giải thương mại trong giải quyết tranh chấp thương mại ở Việt Nam” cho luận văn thạc sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài pháp luật về hòa giải thương mại ở Việt Nam tương đối đa dạng, phong phú. Rất nhiều công trong nghiên cứu đã được công bố trong thời gian quan, trong đó phải kể đến một số công trình tiêu biểu như:
– Cung Mỹ Anh (2008), Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự – Những vướng mắc và giải pháp khắc phục, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
– Ngô Thị An (2012), Pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại ngoài thủ tục tố tụng tư pháp, thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
– Võ Hương Giang (2015), Pháp luật điều chỉnh hoạt động hòa giải tư pháp trong giải quyết tranh chấp thương mại tại Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội
– Phạm Lê Mai Ly (2014), Pháp luật hòa giải tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội.
– Nguyễn Thị An Na (2010), Hòa giải – Phương thức giải quyết tranh chấp thương mại ngoài tố tụng tư pháp, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
– Lê Thị Tâm (2014), So sánh phương thức hòa giải với thủ tục hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh tế tại Toà án, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Tuy nhiên, trong số các công trình nghiên cứu đã nêu ở trên, một số công trình chỉ tập trung vào hòa giải trong tố tụng (toà án và trọng tài) mà không nghiên cứu chuyên sâu về hòa giải thương mại với tính chất là một chế định độc lập. Mặt khác, đa phần các nghiên cứu thường tiếp cận phương thức hòa giải thương mại từ góc độ luật thực định, trong khi có rất nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng cơ chế hòa giải thương mại đang cần được tiếp tục nghiên cứu, làm rõ để cập nhật trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại nói riêng ở Việt Nam. Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu có đề cập đến hòa giải thương mại với tính chất là một chế định độc lập nhưng các nội dung nghiên cứu đó đều không có tính thời sự, thiếu tính cập nhật, đặc biệt là trong bối cảnh hàng loạt các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành.
Do vậy, trong Luận văn này, trên cơ sở kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu trước đó, tác giả sẽ tiếp tục phát triển hướng nghiên cứu vào các vấn đề, các khía cạnh còn bỏ ngỏ hoặc còn chưa được luận giải thấu đáo, đồng thời, phân tích, so sánh và cập nhật các quy định mới liên quan đến vấn đề này. Từ đó, góp phần làm sáng tỏ và hoàn thiện hơn các vấn đề lý luận và thực tiễn của đề tài dưới góc độ khoa học pháp lý.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là hệ thống lý luận pháp lý và luật thực định liên quan đến phương thức hòa giải thương mại, tập trung vào các chế định chủ yếu sau đây mô hình tổ chức hòa giải thương mại, quy chế hòa giải viên, nguyên tắc tiến hành hòa giải thương mại, trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải thương mại, cơ chế công nhận và thi hành kết quả hòa giải thương mại.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung chủ yếu vào hệ thống khoa học pháp lý, các quy định của pháp luật Việt Nam về hòa giải thương mại, có tham chiếu đến pháp luật của một số nước và các tổ chức quốc tế liên quan trong lĩnh vực này.
4. Mục đích nghiên cứu
Luận văn được thực hiện với mục đích nghiên cứu, làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận pháp lý về hòa giải thương mại vốn chưa được đề cập hoặc chưa được giải quyết thấu đáo ở các công trình nghiên cứu trước đó, đặc biệt từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới nơi mà có chế hòa giải thương mại đã phát triển. Luận văn cũng tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về hòa giải thương mại cũng như tình hình thực hiện trên thực tế, phân tích những mặt tích cực cũng như những mặt còn hạn chế trong các quy định của pháp luật, kết quả thực hiện, tồn tại và nguyên nhân. Từ kết quả nghiên cứu nêu trên, Luận văn đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về hòa giải thương mại ở Việt Nam hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu Đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong lĩnh vực khoa học pháp lý như phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê.
Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lênin, với hạt nhân là phép duy vật biện chứng và phép duy vật lịch sử. Ngoài ra, tác giả bám sát các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, về cải cách tư pháp, mà trọng tâm là Nghị quyết số 48-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị và các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, IX, X, XI, XII và Hiến pháp năm 2013.
Các số liệu thống kê sử dụng trong Luận văn được tác giả trích dẫn từ các nguồn có sẵn với giả định rằng các nguồn đó là chính xác và tin cậy. Do thời gian nghiên cứu có hạn nên tác giả không có điều kiện kiểm chứng. Ngoài ra, một số ví dụ minh hoạ về hòa giải trong Luận văn được tác giả khái quát và tổng hợp từ thực tiễn lĩnh vực công tác của mình.
6. Những đóng góp của luận văn
So với các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài pháp luật về hòa giải thương mại ở Việt Nam, Luận văn có một số đóng góp mới như sau:
Thứ nhất, Luận văn đã luận giải và làm sâu sắc hơn một số vấn đề lý luận về hòa giải thương mại. Trong đó, làm rõ sự khác biệt giữa “hòa giải” với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp độc lập và “hòa giải” với tính chất là một thủ tục trong tố tụng toà án hoặc trọng tài.
Thứ hai, Luận văn đã nêu bật được vai trò, ý nghĩa của phương thức giải quyết tranh chấp thương mại thông qua hòa giải. Từ đó, khẳng định đây là một phương thức giải quyết tranh chấp hiệu quả, ít tốn kém phù hợp với tính chất, đặc thù của việc giải quyết tranh chấp thương mại, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hoả và hội nhập quốc tế hiện nay.
Thứ ba, Luận văn đã xây dựng được khung lý thuyết cho việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và luật thực định liên quan đến hòa giải tranh chấp thương mại, bao gồm các thành tố mô hình tổ chức hòa giải thương mại, quy chế hòa giải viên, nguyên tắc tiến hành hòa giải thương mại, trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải thương mại, cơ chế công nhận và thi hành kết quả hòa giải thương mại.
Thứ tư, Luận văn đã phân tích và đánh giá thực trạng của việc áp dụng các quy định về hòa giải thương mại thông qua việc tổng hợp, hệ thống hóa các quy định pháp luật hiện hành ở Việt Nam về hòa giải thương mại và thống kê các vụ tranh chấp thương mại được giải quyết thông qua hòa giải.
Thứ năm, Luận văn đã đề xuất các phương hướng, giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hòa giải thương mại ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Trong đó, có nhiều kiến nghị có giá trị khoa học và thực tiễn, mang tính khả thi cao.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 03 chương chính như sau:
Chương 1. Một số vấn đề chung về hòa giải thương mại và pháp luật hòa giải thương mại.
Chương 2. Thực trạng pháp luật hòa giải thương mại ở Việt Nam và thực tiễn thi hành
Chương 3. Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về hòa giải thương mại ở Việt Nam
Định dạng | Link tải |