[Luận văn 2021] Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng – Quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và thế giới – ThS. Đặng Thị Lan Hương
Định dạng | Link tải |

Định dạng | Link tải |
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Mặc dù hợp đồng được coi là một trong những phương thức hữu hiệu để xác lập các quan hệ tài sản giữa các chủ thể, nhằm đáp ứng các nhu cầu từ cơ bản cho đến các nhu cầu cao hơn của cá nhân, pháp nhân. Song, hợp đồng chỉ thực sự đi vào thực tiễn đời sống khi hợp đồng đã có hiệu lực pháp luật. Theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan, hợp đồng có hiệu lực khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện nhất định. Trong đó có những điều kiện bắt buộc chung với mọi loại hợp đồng như điều kiện về năng lực chủ thể, điều kiện về sự tự nguyện của chủ thể, điều kiện về mục đích và nội dung của hợp đồng. Ngoài ra, điều kiện về hình thức chỉ được coi là điều kiện có hiệu lực của một số loại hợp đồng cụ thể. Tức là khi luật chuyên ngành có quy định cụ thể về hình thức xác lập một loại hợp đồng nào thì chủ thể giao kết hợp đồng sẽ phải tuân thủ quy định đó.
Nghiên cứu thực trạng pháp luật hiện hành cho thấy, có nhiều vấn để hạn chế còn tồn tại liên quan đến quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Điển hình là sự không thống nhất giữa các văn bản pháp luật khác nhau liên quan đến điều kiện có hiệu lực của một loại hợp đồng cụ thể. Thậm chí còn tồn tại sự mâu thuẫn giữa các quy định trong cùng một văn bản liên quan đến vấn đề này. Đây là vấn đề đã xuất hiện và tồn tại từ lâu, song đến thời điểm hiện nay vẫn chưa được giải quyết triệt để. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình áp dụng pháp luật vào đời sống xã hội, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể có liên quan. Những vấn đề mâu thuẫn, bất cập này xuất phát từ nhiều nguyên nhân trong đó chủ yếu là sự mâu thuẫn trong quan điểm của các nhà lập pháp khi xây dựng văn bản pháp luật liên quan, hoặc là sự không thống nhất trong cách hiểu của những người có thẩm quyền trong việc áp dụng pháp luật,… Từ một vài thực tế này cho thấy, việc nghiên cứu nhằm hướng tới việc thống nhất cách hiểu các quy định liên quan đến hợp đồng nói chung, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng nói riêng là vấn đề cần thiết.
Trong nội dung chuyên để này, tôi tập trung nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Qua đó, tôi đi vào phân tích làm rõ các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, có so sánh đối chiếu với pháp luật một số quốc gia trên thế giới và khu vực. Từ những vấn đề đã phân tích này, tôi đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, làm cơ sở để các nhà lập pháp tham khảo trong quá trình hoàn thiện pháp luật có liên quan.
Đây chính là lý do mà học viên đã lựa chọn để tài “Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng – Quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và pháp luật một số quốc gia trên thế giới”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu các quy định liên quan đến điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, cũng như giao dịch dân sự không phải là một chủ đề mới, tuy nhiên luôn nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học pháp lý qua các thời là dưới nhiều góc độ khác nhau. Xuất hiện trong các bài giảng trong giáo trình tại các trường đại học, ấn phẩm, bài báo, các công trình nghiên cứu khoa học.
Có thể kể tên một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
(1) Nguyễn Văn Cừ và Trần Thị Huệ ( đồng chủ biên, 2017), “Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
Đây là một công trình nghiên cứu đồ sộ của nhiều tác giả nghiên cứu tổng hợp tất cả các quy định ở nhiều khía cạnh của Bộ luật Dân sự năm 2015. Còn về điều kiện có hiệu lực có hiệu lực của hợp đồng thì mới ở mức nhìn khái quát, bình luận chung chung, chưa đi đến gốc rễ của vấn đề cũng như mới ở tầm nhìn trong nước chưa so chiếu được với các nước khác.
(2) Lê Minh Hùng, “Hiệu lực của hợp đồng”. Sách chuyên khảo. NXB. Hồng Đức, TP. Hồ Chí Minh, 2015.
Đây là công trình nghiên cứu về hiệu lực của hợp đồng chuyên sâu theo quy định của pháp luật Việt Nam nói chung. Trong tác phẩm này tác giả đã nếu ra được khá chi tiết các vấn đề về mặt lý luận của hiệu lực của hợp đồng. Ngoài nếu ra những luận điểm của cá nhân về vấn đề này thì trong tác phẩm cũng đã chỉ ra được những mặt hạn chế trong các quy định pháp luật, thực tiễn áp dụng, kiến nghị hoàn thiện cũng như có sự so chiếu với một số quốc gia. Tuy nhiên, bài viết đều dựa vào những quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005. Hiện nay. Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có hiệu lực, các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng đã có nhiều sự thay đổi nên cần được tiếp tục nghiên cứu.
(3) Nguyễn Ngọc Khánh, “Chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam”, NXB Tư Pháp, 2007, 559tr
Cuốn sách nếu ra những vấn đề pháp lý cơ bản về hợp đồng dựa trên hệ thống pháp luật Việt Nam như khái niệm, chức năng, vị trí. Tuy nhiên trong cuốn sách chủ yếu nghiên cứu về việc thực hiện, sửa đổi hay hủy bỏ hợp đồng mà chưa tập trung đi sâu vào vấn đề điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. ngoài ra cũng nghiên cứu dựa vào bộ luật cũ năm 2005 nên có nhiều điều nhìn nhận đã lỗi thời, chưa phù hợp với thực tiễn. Ngoài ra trong tác phẩm thì tác giả cũng đã có sự so chiếu, trích dẫn với một số bộ luật của các nước khác như: Anh, Đức, Pháp, Nga tuy nhiên mới ở mức khái quát, chung chung.
(4) Đỗ Văn Đại, “Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015”. Sách chuyên khảo, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam ,2016, 813tr
Tác phẩm thể hiện được những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 nói chung và điều kiện có hiệu lực của hợp đồng nói riêng. Là công trình nghiên cứu của nhiều tác giả, trình bảy được khá chi tiết các điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 so với bộ luật cũ. Thể hiện những lập luận, cách thức quy định của cơ quan chủ trì soạn thảo. Tuy nhiên, cuốn sách không đi sâu vào phân tích những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng hay có sự so chiếu với các quốc gia mà mới dừng lại ở việc nêu lên điểm mới, điểm tiến bộ so với bộ luật cũ.
(5) Ngô Huy Cương, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội – “Giáo trình Luật hợp đồng” (phần chung) (dùng cho đào tạo sau đại học), NXB. Đại học quốc gia Hà Nội, 2013.
Cuốn sách nếu ra được những vấn đề cơ bản về hợp đồng dựa trên hệ thống pháp luật Việt Nam. Về hiệu lực của hợp đồng cũng được tác giả tách ra thành chương riêng biệt và nghiên cứu sâu hơn. Từ cuốn sách có thể lấy ra được nhiều quan điểm mới lạ dưới góc nhìn của cá nhân. Cuốn sách tập trung chủ yếu vào vấn đề “lý thuyết” của vấn đề cũng như chưa có so sánh với các quốc gia, cũng như thực tiễn áp dụng một cách chuyên sâu hơn.
(6) Đoàn Đức Lương (2015), “Về hình thức và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng” Tạp chí Kiểm sát, số 3, Hà Nội
Trong bài viết mới chỉ đi vào nghiên cứu vấn đề hình thức và thời điểm của hợp đồng, chưa có sự bao quát các điều kiện khác của hợp đồng. Hơn nữa, tác giả cũng là dựa trên quy định của Bộ luật Dân sự 2005 để phân tích nên đến nay nhiều điều kiện đã có sự thay đổi, sẽ là không phù hợp nếu tiếp tục sử dụng.
(7) Trần thị Huệ và Trần Thị Giang (2013), “Bàn về hình thức và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 7, tr 2-8, Hà Nội.
Bài viết là sự nghiên cứu chuyên sâu về riêng một loại hợp đồng là hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, nên chưa có sự khái quát chung về các loại hợp đồng khác. Vì vậy, mới thấy một khía cạnh nhỏ về hình thức và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng. Ngoài ra, bài viết cũng dựa trên căn cứ pháp luật của Bộ luật Dân sự năm 2005, là bộ luật cũ nên đến nay đã có nhiều sự thay đổi, không thực tế khi áp dụng vào thời điểm hiện tại.
(8) Đỗ Văn Đại (2018), “Luật hợp đồng Việt Nam, bản án và bình luận bản án”, NXB Hồng Đức, tr. 584.
Cuốn sách là sự tập hợp của các bản án và bình luận các bản án đã phát sinh hiệu lực có nội dung là sự tranh chấp về hợp đồng. Cuốn sách giúp cho người đọc tiếp cận được các vấn đề tranh chấp dưới góc độ thực tiễn. Ngoài ra tác giả có những bình luận sâu sắc, so chiếu các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 với các quy định bộ luật nước khác. Phạm vi nghiên cứu của cuốn sách rất rộng tập trung hơn vào việc phân tích các tranh chấp về hợp đồng mà không có sự tập trung vào phân tích điều kiện có hiệu lực của hợp đồng cũng như so chiếu với quy định của một số quốc gia.
(9) Dương Anh Sơn(2015), “Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi)”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 13, tr 41-47, Hà Nội.
Tác giả đi vào phân tích, đánh giá, kiến nghị hoàn thiện dự thảo Bộ luật Dân sự 2015. Trong đó dự thảo quy định về tự nguyện giao kết giao dịch dân sự với yếu tố nhầm lẫn được tập trung phân tích hơn hết. Khi Bộ luật Dân sự năm 2015 được thông qua và có hiệu lực thi hành thì cũng có sự thay đổi so với dự thảo. Bài viết cũng chưa đi sâu viết về các mặt về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng nên chưa có sự khái quát tổng hợp.
(10) Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên, 2016), “Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015”, Nxb. Tư Pháp, Hà Nội
Đây là công trình nghiên cứu các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 bằng cách tiếp cận trực tiếp các điều luật. Do đi vào từng điều luật nên việc phân tích các điều luật đều ở độ khái quát, chưa có sự nghiên cứu chuyên sâu cũng như chỉ ra điểm hạn chế hay so chiếu với các quy định của các nước khác. Về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thì cũng mới dừng ở mức khái quát, cơ bản.
(11) Nguyễn Văn Cường(2005), “Giao dịch dân sự vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu”. Luận án tiến sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội.
Tác phẩm phân tích về việc xác định một giao dịch là giao dịch dân sự vô hiệu, tức là ở mức khái quát nhất chứ không đi sâu vào vấn đề cụ thể hơn là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Ngoài ra, tác phẩm cũng sử dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để phân tích, tức là đến nay thì đã không còn phù hợp nữa.
Trên đây chỉ là một số trong rất nhiều công trình nghiên cứu về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng với nhiều hướng tiếp cận khác nhau. Kết quả của những công trình nghiên cứu trước đó là cơ sở cho học viên tiếp tục nghiên cứu đề tài. Mặc dù có rất nhiều khía cạnh khác nhau của điều kiện có hiệu lực hợp đồng được khai thác tuy nhiên chưa có một công trình nghiên cứu nào cụ thể so chiếu quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới.
Do vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng – Quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và pháp luật một số quốc gia trên thế giới” vẫn là việc cần thiết cũng như không bị trùng lặp với công trình nào khác.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng của Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới.
Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật dân sự về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng chứ không nghiên cứu tổng thể về hợp đồng hay giao dịch dân sự.
So chiếu các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng của Việt Nam với một số quốc gia trên thế giới. Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm, tiếp thu những điểm tiến bộ để vận dụng vào pháp luật Việt Nam. Qua quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn sẽ cố gắng đưa ra những kiến nghị để nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam để khắc phục những vướng mắc khi áp dụng.
4. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản và hệ thống hóa các vấn đề pháp lý cũng như thực tiễn áp dụng các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự.
Nhìn nhận được những mặt hạn chế cũng như điểm tiến bộ qua các thời kì trong pháp luật dân sự Việt Nam về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Sự tương đồng và khác biệt của pháp luật dân sự Việt Nam với một số quốc gia về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Tìm ra những điểm phù hợp và tiến bộ mà pháp luật dân sự Việt Nam có thể học hỏi từ các quốc gia khác.
Đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam, tăng hiệu quả áp dụng vào thực tiễn. Để pháp luật dân sự Việt Nam không chỉ đảm bảo quyền và lợi ích của các đương sự mà còn góp phần thúc đẩy giao lưu dân sự, phát triển kinh tế xã hội đất nước.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Với những mục đích nghiên cứu đã nêu, luận văn sẽ dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lênin để nghiên cứu và làm sáng tỏ mối liên hệ của vấn đề lý luận và pháp luật. Phương pháp luận duy vật lịch sử để tìm hiểu mối liên hệ với các hiện tượng xã hội cũng như sự kế thừa và phát triển các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng.
Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống khác như:
– Phương pháp phân tích để làm sáng rõ bản chất cũng như các vấn đề pháp lý;
– Phương pháp logic để nghiên cứu tổng quát nhằm bộc lộ quy luật vận động và phát triển khách quan của điều kiện có hiệu lực của hợp đồng.
– Phương pháp so sánh để thấy được sự tương đồng cũng như sự khác biệt của pháp luật Việt Nam qua các thời là cũng như với một số quốc gia trên thế giới;
– Phương pháp tổng hợp để liên kết thống nhất các vấn đề đã được phân tích nhằm nhận thức toàn bộ vấn đề, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật.
6. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu để tài sẽ làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự:
– Các vấn đề lý luận cơ bản như khái niệm, đặc điểm, phân loại, nghĩa,… của điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự 2015 và một số quốc gia trên thế giới;
-So chiếu được với một số quốc gia khác trên thế giới để thấy được điểm tiến bộ cũng như những mặt hạn chế trong lý luận và thực tiễn áp dụng;
– Đưa ra được những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, tăng hiệu quả áp dụng vào thực tiễn đời sống.
7. Kết cấu của luận văn
Khóa luận nghiên cứu gồm 75 trang. Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được kết cấu thành 3 chương sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
Chương 2: Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và một số quốc gia trên thế giới
Chương 3: Áp dụng pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
Định dạng | Link tải |