W10076[Đề án 2024] Chấm dứt hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân Quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội – ThS. Đặng Minh Thanh
Định dạng | Link tải |

Mục lục
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| LỜI CAM ĐOAN | |
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Tính cấp thiết của đề tài | 1 |
| 2. Tình hình nghiên cứu đề tài | 2 |
| 3. Mục đích và nhiệm vụ | 7 |
| 4. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu | 8 |
| 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu | 9 |
| 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài | 10 |
| 7. Kết cấu của đề tài | 11 |
| CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG VÀ QUY ĐỊNH VỀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI THUỘC HỆ THỐNG CIVIL LAW VÀ COMMON LAW | 12 |
| 1.1. Khái niệm chấm dứt hợp đồng | 12 |
| 1.2. Bản chất pháp lý của chấm dứt hợp đồng | 14 |
| 1.3. Hệ quả pháp lý của chấm dứt hợp đồng | 16 |
| 1.3.1. Làm chấm dứt mối quan hệ hợp đồng giữa các bên | 17 |
| 1.3.2. Làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả, thanh toán | 17 |
| 1.3.3. Làm phát sinh trách nhiệm phạt vi phạm hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại hợp đồng | 18 |
| 1.4. Quy định về chấm dứt hợp đồng của một số nước trên thế giới | 20 |
| 1.4.1. Sự tương đồng pháp lý về chấm dứt hợp đồng | 20 |
| 1.4.2. Những điểm khác biệt pháp lý về chấm dứt HD | 21 |
| KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 | 33 |
| CHƯƠNG 2: CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 | 34 |
| 2.1. Hợp đồng đã được hoàn thành | 34 |
| 2.2. Theo thỏa thuận của các bên | 35 |
| 2.3. Cá nhân giao kết hợp đồng chết hoặc pháp nhân giao kết hợp đồng chấm dứt tồn tại | 37 |
| 2.4. Hợp đồng bị hủy bỏ | 38 |
| 2.4.1. Điều kiện Hợp đồng bị huỷ bỏ | 38 |
| 2.4.2. Hiệu lực khi Hợp đồng huỷ bỏ | 41 |
| 2.4.3. Hệ quả pháp lý của hủy bỏ HĐ | 42 |
| 2.5. Hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện | 43 |
| 2.5.1. Điều kiện hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện khi có hành vi vi phạm | 43 |
| 2.5.2. Một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng khi không có hành vi vi phạm | 47 |
| 2.5.3. Hiệu lực khi Hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện | 48 |
| 2.5.4. Hệ quả pháp lý đơn phương chấm dứt hợp đồng | 49 |
| 2.6. Hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn | 51 |
| 2.7. Khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản | 51 |
| 2.7.1. Điều kiện áp dụng hoàn cảnh thay đổi cơ bản | 53 |
| 2.7.2. Chấm dứt hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản | 55 |
| 2.8. Các trường hợp khác | 56 |
| KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 | 57 |
| CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VỀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG | 59 |
| 3.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về chấm dứt hợp đồng tại Tòa án nhân dân quận Đống Đa | 59 |
| 3.1.1. Thực trạng chấm dứt hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 tại Tòa án nhân dân quận Đống Đa | 59 |
| 3.1.2. Một số bất cập trong quy định về chấm dứt hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 | 73 |
| 3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về chấm dứt hợp đồng | 77 |
| 3.2.2. Bổ sung quy định về người có quyền từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình | 78 |
| 3.2.3. Bổ sung quy định về vi phạm nghĩa vụ không nghiêm trọng trước khi hết hạn thực hiện hợp đồng | 78 |
| 3.2.4. Bổ sung quy định về xác định vi phạm nghiêm trọng | 78 |
| 3.2.5. Bổ sung quy định về hậu quả pháp lý của hủy bỏ hợp đồng | 79 |
| 3.2.6. Bổ sung quy định về thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng | 79 |
| 3.2.7. Bổ sung quy định về hoàn cảnh thay đổi lớn | 80 |
| 3.2.8. Bổ sung quy định về gây thiệt hại lớn | 80 |
| KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 | 81 |
| KẾT LUẬN | 82 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 83 |
| PHỤ LỤC 1: DANH MỤC BIỂU ĐỒ | 88 |
Định dạng | Link tải |
Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Chấm dứt HĐ là vấn đề cấp bách được các học giả và các nhà hoạt động thực tiễn nghiên cứu. Chấm dứt HĐ đã có một số công trình nghiên cứu và bài viết sau:
Chế định hợp đồng trong bộ luật dân sự Việt Nam của tác giả Nguyễn Ngọc Khánh chỉ tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn của một số vấn đề cơ bản nhất về chế định HĐ, từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị có căn cứ khoa học và khả thi để hoàn thiện chế định HĐ trong BLDS của Việt Nam. Tác giả phân tích về điều kiện huỷ bỏ của một bên được ghi nhận trong BLDS năm 2005 đồng thời chỉ ra mâu thuẫn chính trong các quy định của BLDS năm 2005, từ đó kiến nghị sửa đổi.
Giáo trình Luật hợp đồng – Phần chung (dùng cho đào tạo sau đại học) của tác giá Ngô Huy Cương đã chỉ ra các trường hợp chấm dứt HĐ theo quy định pháp luật của một số nước như: Iran, Anh, Úc và Hoa Kỳ. Tác giả phân tích 3 nguyên tắc thực hiện HĐ được ghi nhận trong pháp luật Việt Nam: Nguyên tắc thực hiện đúng và đầy đủ HĐ; Thực hiện HĐ trung thực, hợp tác, có lợi và tin cậy; Đảm bảo lợi ích của người khác. Đồng thời tác giả chỉ ra hai nhóm nguyên nhân chấm dứt HĐ bởi hiệu lực của pháp luật. Một là, nhóm nguyên nhân đầu tiên do hiệu lực đơn thuần của pháp luật khi có các quy định pháp luật có hiệu lực được ban hành sau khi HĐ được giao kết và HĐ không thể thực hiện được do: Người thực hiện chết hoặc mất năng lực thực hiện; Đối tượng của HĐ bị tiêu huỷ, Hành động của chính quyền khiến việc thực hiện trở nên bất hợp pháp; Bất khả kháng hoặc hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Hai là,, trường hợp phá sản.
Luật Hợp đồng Việt Nam – bản án và bình luận bản án của tác giả Đỗ Văn Đại tập trung phân tích các trường hợp chấm dứt, huỷ bỏ HĐ do không thực hiện đúng HĐ. Về điều kiện để chấm dứt, huỷ bỏ HĐ, tác giả đã phân tích 3 loại điều kiện: Điều kiện có thỏa thuận; Điều kiện có quy định cụ thể; Điều kiện có lỗi của bên có quyền. Về hệ quả của huỷ bỏ HĐ, tác giả đã đưa ra ý kiến về trách nhiệm hoàn trả tài sản đã nhận của các bên, đối với hoa lợi, lợi tức phát sinh từ những tài sản đó thì xử lý tương tự như giải quyết hệ quả của HĐ vô hiệu.
Luận án Tiến sĩ học “Các quy định về chấm dứt hợp đồng trong pháp luật Việt Nam và một số nước dưới góc độ so sánh” của tác giả Đặng Thị Hồng Tuyến đã so sánh quy định pháp luật về chấm dứt HĐ Việt Nam với pháp luật Anh, Đức và Trung Quốc tồn tại nhiều điểm khác biệt. Tuy nhiên, không phải tất cả các quy định khác biệt đó của pháp luật Việt Nam đều là hạn chế của pháp luật Việt Nam. Tác giả chỉ ra một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật: Vi phạm HĐ khi chưa đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ không được quy định trực tiếp (Có thể xảy ra trường hợp sau khi ký HĐ và trước khi hết thời hạn thực hiện, một bên thấy rằng bên kia có nguy cơ không thực hiện tốt HĐ); Quy định về vi phạm nghiêm trọng chưa rõ ràng; Việc xác định việc không thực hiện đúng HĐ là do yếu tố khách quan không thực sự rõ ràng; Quy định về bồi thường thiệt hại ước tính còn mơ hồ trong khi thỏa thuận về bồi thường thiệt hại ước tính tương đối thông dụng trên thực tế và thường được thỏa thuận để thay thế bồi thường thiệt hại. Tác giả đưa ra năm nhóm kiến nghị: Kiến nghị chung, Kiến nghị về các trường hợp chấm dứt HĐ theo ý chí của các bên; Kiến nghị về các trường hợp chấm dứt HĐ theo ý chí của một bên; Kiến nghị về các trường hợp chấm dứt do hoàn cảnh khách quan; Kiến nghị về hệ quả pháp lý của chấm dứt HĐ.
Luận văn Thạc sĩ “Hủy bỏ hợp đồng – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Trần Thị Nhường phân tích vấn đề lý luận chung về hủy bỏ HĐ. Tác giả so sánh hủy bỏ HĐ với đơn phương chấm dứt HĐ và tuyên bố HĐ vô hiệu. Ngoài ra tác giả cũng đã phân tích căn cứ hủy bỏ HĐ, trình tự tiến hành và hậu quả pháp lý cũng như chỉ ra bất cập và kiến nghị hoàn thiện. Đồng thời, tác giả chỉ ra những bất cập trong quy định hiện hành: Quy định về huỷ bỏ HĐ có quy định ở cả phần chung và phần riêng nhưng không áp dụng cho tất cả trường hợp huỷ bỏ HĐ; Một số quy định trong phần HĐ thông dụng cho phép huỷ bỏ HĐ khi hành vi vi phạm không nghiêm trọng trong khi hầu hết các quy định về huỷ bỏ HĐ hướng tới điều chỉnh các trường hợp vi phạm nghiêm trọng; Trách nhiệm hoàn trả hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản khi huỷ bỏ HĐ chưa có cách thức giải quyết đối với HĐ; Quy định BLDS không cho phép một bên được huỷ bỏ HĐ trước hạn. Tác giả đưa ra một số kiến nghị sửa đổi quy định pháp luật như: Trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không có quy định khác thì HĐ chỉ bị huỷ bỏ khi có hành vi vi phạm nghiêm trọng; Bổ sung quy định về việc hoàn trả hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản; Cho phép các bên huỷ bỏ HĐ trước thời hạn.
Luận văn Thạc sĩ “Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự theo pháp luật dân sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Oanh phân tích đơn phương chấm dứt HĐ dựa vào hành vi vi phạm của đối tác và khi không có hành vi vi phạm. Bằng việc phân tích Bản án số 7/KTST, ngày 21/01/2005 về tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ bảo vệ và Bản án kinh tế phúc thẩm (lần thứ 3) số 44/KTPT, việc vận dụng quy định pháp luật về đơn phương chấm dứt HĐ còn nhiều hạn chế với các bên tham gia quan hệ HĐ cũng như cơ quan xét xử như: Vi phạm của bên vi phạm hoặc một số điều kiện chủ quan và khách quan dẫn đến đơn phương chấm dứt HĐ không được quy định; Không có quy phạm cụ thể cho phép đơn phương chấm dứt HĐ khi có đầy đủ các yếu tố dẫn đến HĐ buộc phải chấm dứt; Quy định về đơn phương chấm dứt HĐ trước thời hạn. Dựa trên những bất cập trên tác giả đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật: Một bên có quyền đơn phương chấm dứt HĐ mà không phải bồi thường thiệt hại khi gặp hiện tượng bất khả kháng hoặc vi phạm nghiêm trọng HĐ; Một bên có quyền đơn phương chấm dứt HĐ trước khi hết thời hạn thực hiện khi thấy rõ bên kia sẽ vi phạm nghiêm trọng HĐ.
Luận văn Thạc sĩ “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” của tác giả Trần Hồng Anh phân tích và làm rõ các điều kiện để điều chỉnh HĐ, nội dung điều chỉnh, chủ thể điều chỉnh và hậu quả pháp lý. Trường hợp các bên không thể đàm phán nội dung HĐ phù hợp với hoàn cảnh thay đổi cơ bản thì HĐ chấm dứt… Tác giả chỉ ra bất cập khi không có quy định về các trường hợp điều chỉnh HĐ khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản cũng như không ghi nhận Toà án có quyền điều chỉnh HĐ của các bên khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Qua đó, tác giả đưa ra những giải pháp: Cho phép HĐ vì lợi ích của người thứ ba được sửa đổi hoặc chấm dứt khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản; Bổ sung về việc bên có lợi ích bị ảnh hưởng có nghĩa vụ phải thông báo về tình trạng thay đổi cơ bản gây ảnh hưởng nghiêm trọng trước khi yêu cầu bên còn lại đàm phán điều chỉnh HĐ trong một thời hạn hợp lý; Bổ sung vai trò của trọng tài trong việc sửa đổi nội dung HĐ khi các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi HĐ trong một thời hạn hợp lý.
2.2. Tình hình nghiên cứu nước ngoài
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài chủ yếu nghiên cứu chung về luật HĐ mà chấm dứt HĐ chỉ là phần trong chế định luật HĐ:
Textbook on Contract Law của tác giả Jill Poole – Oxford University Press đã mang lại góc nhìn khái quát về luật HĐ ở nước Anh: Khái niệm HĐ, nội dung HĐ, giải thích HĐ, thực hiện HĐ, vi phạm HĐ… và bao gồm chấm dứt HĐ. HĐ có thể bị chấm dứt do HĐ đã hoàn thành, theo thỏa thuận, do bất khả kháng hoặc do vi phạm HĐ. Tác giả Catherine cũng đã so sánh hai trường hợp HĐ vô hiệu và huỷ bỏ HĐ. Một HĐ sẽ được chấm dứt khi cả hai bên đã thực hiện toàn bộ những nghĩa vụ HĐ. Một nghĩa vụ được coi là đã thực hiện khi việc thực hiện đó đáp ứng được tiêu chuẩn đặt ra theo HĐ. Hệ quả là, trường hợp việc thực hiện nghĩa vụ không đạt được tới tiêu chuẩn được yêu cầu đó thì bị coi là vi phạm hợp đồng.
Contract Law của tác giả Catherine Elliott & Frances Quinn đã có góc nhìn tổng quát về pháp luật hợp đồng nước Anh. Trong đó, tác giả đã có những phân tích về từng trường hợp dẫn đến chấm dứt HĐ, các hệ quả của việc chấm dứt HĐ theo quy định của pháp luật Anh dựa trên cơ sở phân tích các án lệ. Tác giả đã chia chấm dứt HĐ thành 4 trường hợp: HĐ đã hoàn thành; HĐ chấm dứt theo thỏa thuận; HĐ chấm dứt do bất khả kháng; HĐ chấm dứt do vi phạm HĐ.
Contract Law của tác giả Mary Charman đã phân tích nhiều khía cạnh khác nhau của luật HĐ Anh. Chủ yếu tác giả tập trung phân tích: Nguyên tắc chung của HĐ, nội dung của HĐ… và các vấn đề bảo vệ người tiêu dùng. Việc chấm dứt HĐ thông thường rất đơn giản, rõ ràng, vì tất cả những gì cần thiết là các bên thực hiện toàn bộ các nhiệm vụ theo thỏa thuận trong HĐ. Trên thực tế, việc thực hiện toàn bộ HĐ theo yêu cầu của pháp luật có thể nảy sinh một số vấn đề, khi các bên thực hiện HĐ có thể nảy sinh việc vi phạm HĐ. Tương tự như tác giả Catherine, tác giả Mary cũng đi sâu vào phân tích 4 trường hợp chấm dứt HĐ: HĐ đã hoàn thành; HĐ chấm dứt theo thỏa thuận; HĐ chấm dứt do bất khả kháng; HĐ chấm dứt do vi phạm HĐ.
The German Law of Contract A Comparative Treatise của tác giả Basil S Markesinis, Hannes Unberath and Angus Johnston đã phân tích luật HĐ của Đức dưới góc nhìn so sánh với pháp luật của Anh. Tác giả đi sâu vào phân tích những trường hợp liên quan đến nghĩa vụ thực hiện HĐ: Chậm thực hiện HĐ, không thực hiện đúng theo thỏa thuận HĐ, không thể thực hiện HĐ, vi phạm HĐ. Chấm dứt HĐ trong trường hợp tác giả sử dụng ở đây, giả định trước rằng có một thỏa thuận hoàn toàn hợp lệ. Chấm dứt HĐ ở đây được coi là một ngoại lệ của nguyên tắc pacta sunt servanda. Ngoài ra, tác giả phân tích chấm dứt HĐ với huỷ bỏ HĐ: Việc chấm dứt HĐ phải được phân biệt với những gì chúng tôi gọi là huỷ bỏ HĐ. Huỷ bỏ HĐ có hiệu lực hồi tố. Kết quả là các bên được đối xử như thế là chưa có thỏa thuận giữa hai bên. Do đó, khi không có quan hệ nhân quả, bất kỳ hoạt động nào của các bên đã được thực hiện trước đó phải được hoàn trả theo quy định về làm giàu bất chính.
Chinese Contract Law: Theory and Practice của tác giả Mo Zhang phân tích tổng thể về luật HĐ Trung Quốc. Tác giả phân biệt huỷ bỏ HĐ và chấm dứt HĐ. Tác giả chia chấm dứt HĐ thành 5 trường hợp: Chấm dứt HĐ do HĐ đã hoàn thành; Chấm dứt HĐ do bù trừ; Chấm dứt HĐ do ký quỹ; Chấm dứt HĐ do miễn trừ; Chấm dứt HĐ do chuyển giao quyền và nghĩa vụ HĐ.
“Chinese Reception and Transplantation of Western Contract Law” của tác giả Wang Jingen và Larry A. DiMatteo đã phân tích luật HĐ hiện tại của Trung Quốc. Tác giả đã phân tích một số nội dung đặc biệt của luật hợp đồng Trung Quốc: Nguyên tắc chấp thuận muộn; Vi phạm HĐ trước hạn; Quyền khắc phục. Trong trường hợp một bên biểu lộ rõ ý định sẽ phá vỡ HĐ thì bên kia có quyền hành động trước khi HĐ thực sự bị phá vỡ trên thực tế. Điều này cho phép bên không có lỗi có quyền chấm dứt HĐ và yêu cầu bồi thường thiệt hại mà không cần phải đợi đến khi HĐ thực tế bị vi phạm.
Tải về tại đây để xem đầy đủ tài liệu
Định dạng | Link tải |