[Tiểu luận 2024] Anh H sinh năm 1979, là con liệt sĩ, làm công nhân nhà máy X từ năm 2002. Tháng 5/2023, anh H bị tai nạn giao thông trên đường đi du lịch, phải cấp cứu và điều trị tại bệnh viện tình T. Sau 4 tháng điều trị, anh được xác định suy giảm 62% khả năng lao động. Do sức khoẻ anh H yếu và nhà máy X không thể bố trí công việc cho anh nên hai bên đã thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động. Anh/Chị hãy giải quyết quyền lợi về an sinh xã hội cho anh H theo quy định của pháp luật hiện hành? (ST0052)
Định dạng | Link tải |

Mục lục
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ THAM GIA VÀ KẾT QUẢ THAM GIA LÀM BÀI TẬP NHÓM | |
| BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT | |
| Xác định tình huống | 1 |
| Giải quyết quyền lợi | 2 |
| 1. Bảo hiểm y tế | 2 |
| 2. Bảo hiểm xã hội | 5 |
| 2.1. Chế độ ốm đau | 5 |
| 2.2. Chế độ hưu trí | 8 |
| 3. Bảo hiểm thất nghiệp - Trợ cấp thất nghiệp | 9 |
| 3.1. Điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp | 10 |
| 3.2. Mức, thời gian, thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp | 12 |
| 4. Ưu đãi đối với người có công với cách mạng | 14 |
| 4.1. Cấp “Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ” | 14 |
| 4.2. Trợ cấp tuất một lần | 14 |
| 4.3. Trợ cấp tuất hàng tháng | 14 |
| 4.4. Điều dưỡng phục hồi sức khỏe | 15 |
| 4.5. Được hưởng bảo hiểm y tế | 16 |
| 4.6. Các chế độ khác | 17 |
Định dạng | Link tải |
Xác định tình huống
Anh H sinh năm 1979, là con liệt sĩ, làm công nhân nhà máy X từ năm 2002. Tháng 5/2023, anh H bị tai nạn giao thông trên đường đi du lịch, phải cấp cứu và điều trị tại bệnh viện tình T. Sau 4 tháng điều trị, anh được xác định suy giảm 62% khả năng lao động. Do sức khoẻ anh H yếu và nhà máy X không thể bố trí công việc cho anh nên hai bên đã thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.
Theo dữ kiện đề bài, ta thấy anh H làm việc cho nhà máy X từ năm 2002 đến tháng 5/2023 mới bị tai nạn giao thông trên đường đi du lịch.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 158 Bộ luật Lao dộng 2019 thì: “Người sử dụng lao động, người lao động phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; người lao động được hưởng các chế độ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp. Khuyến khích người sử dụng lao động, người lao động tham gia các hình thức bảo hiểm khác đối với người lao động.” Vì vậy anh H sẽ thuộc đối trường hợp này ta mặc nhiên coi anh H tham gia bảo hiểm từ năm 2002.
Theo khoản 5 Điều 3 Luật bảo hiểm xã hội 2014: “Thời gian đóng bảo hiểm xã hội là thời gian được tính từ khi người lao động bắt đầu đóng bảo hiểm xã hội cho đến khi dừng đóng. Trường hợp người lao động đóng bảo hiểm xã hội không liên tục thì thời gian đóng bảo hiểm xã hội là tổng thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội”. Tính từ thời gian anh H làm việc tại nhà máy X từ năm 2002 thì thời gian tham gia bảo hiểm xã hội đến tháng 5/2023 là 21 năm 4 tháng. Tuy nhiên, chế độ “bảo hiểm thất nghiệp” lần đầu được ghi nhận tại Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006. Luật bảo hiểm xã hội 2006 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2007, khoản 1 Điều 140 Luật bảo hiểm xã hội 2006 quy định về hiệu lực thi hành của bảo hiểm thất nghiệp như sau: “Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2007; riêng đối với bảo hiểm xã hội tự nguyện thì từ ngày 01 tháng 01 năm 2008, đối với bảo hiểm thất nghiệp thì từ ngày 01 tháng 01 năm 2009”. Cho nên, anh H sẽ tham gia bảo hiểm thất nghiệp từ 1/1/2009, tính đến tháng 5/2023 thì thời gian anh H đã đóng bảo hiểm thất nghiệp là 14 năm 4 tháng.
Đối với tai nạn xảy ra với anh H: Theo trường hợp quy định tại khoản 8 Điều 3 Luật an toàn vệ sinh lao động 2015 thì: “Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động”. Anh H bị tai nạn giao thông trên đường đi du lịch, đây không được coi là tai nạn lao động vì tai nạn đó không thuộc trường hợp tai nạn quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật BHXH 2014 quy định về các trường hợp tai nạn có thể được hưởng chế độ tai nạn lao động:
“1. Bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc;
b) Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động;
c) Trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý.”
Vậy nên, anh H không được hưởng chế độ tai nạn lao động.
Ngoài ra, anh H có thể là đối tượng được hưởng bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và ưu đãi người có công với cách mạng nếu đáp ứng đủ các điều kiện về nội dung và thủ tục của các chế độ trên.
Giải quyết quyền lợi
1. Bảo hiểm y tế
Theo dữ kiện đề bài, nhóm xác định anh H thuộc đồng thời hai đối tượng tham gia BHYT khác nhau, cụ thể như sau:
Thứ nhất, anh H thuộc đối tượng tham gia BHYT là nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng.
Trước hết, anh H là công nhân của nhà máy X từ tháng 2/2002, theo đó anh H có giao kết hợp đồng lao động và phát sinh quan hệ lao động với người sử dụng lao động tại nhà máy X. Tính đến tháng 5/2023, anh H đã làm việc tại đây được 21 năm 03 tháng. Căn cứ Khoản 1 Điều 27 Bộ luật Lao động năm 1994 (có hiệu lực tại thời điểm anh H giao kết hợp đồng lao động), Điều 22 Bộ luật Lao động năm 2012, Điều 20 Bộ luật Lao động năm 2019 về các loại hợp đồng lao động, tính đến năm 2023, anh H xác lập với người sử dụng lao động tại nhà máy X hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
Điểm a Khoản 1 Điều 12 Luật BHYT năm 2008 và Điều 1 Nghị định 146/2018/NĐ-CP đều quy định người lao động và người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng BHYT: “Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; người lao động là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương; cán bộ, công chức, viên chức”. Theo đó, anh H là người lao động làm việc theo hợp đồng không xác định thời hạn nên thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm y tế.
Thứ hai, anh H thuộc đối tượng tham gia BHYT là nhóm do ngân sách nhà nước đóng.
Anh H được xác định là thân nhân của người có công với cách mạng, cụ thể là con của liệt sỹ. Điểm i Khoản 3 Điều 12 Luật BHYT năm 2008 quy định đối tượng tham gia BHYT được ngân sách nhà nước đóng bao gồm: “Thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sỹ; người có công nuôi dưỡng liệt sỹ”. Như vậy, anh H cũng thuộc đối tượng tham gia BHYT và được ngân sách nhà nước đóng phí vào quỹ hàng tháng.
Như đã phân tích ở trên, anh H thuộc nhiều đối tượng tham gia BHYT khác nhau: đối tượng thuộc nhóm người lao động, người sử dụng lao động đóng và đối tượng thuộc nhóm ngân sách nhà nước đóng. Pháp luật về BHYT hiện hành có những quy định riêng về việc đóng phí vào quỹ BHYT và mức hưởng BHYT đối với đối tượng đặc biệt này. Cụ thể:
Về việc đóng phí vào quỹ, căn cứ Khoản 2 Điều 13 Luật BHYT năm 2008, trường hợp một người đồng thời thuộc nhiều đối tượng tham gia BHYT khác nhau quy định tại Điều 12 của Luật này thì đóng BHYT theo đối tượng đầu tiên mà người đó được xác định theo thứ tự của các đối tượng quy định tại Điều 12 của Luật này. Theo quy định này, anh H là công nhân của nhà máy X, là đối tượng được nhắc đến đầu tiên tại Khoản 1 Điều 12 Luật BHYT năm 2008 nên anh H đóng BHYT theo đối tượng là người lao động.
Về mức hưởng BHYT, theo Khoản 1 Điều 22 Luật BHYT 2008, mỗi đối tượng tham gia BHYT có mức hưởng khác nhau. Người tham gia BHYT theo điểm i Khoản 3 Điều 12 (trong đó có con liệt sỹ) khi đi khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại các Điều 26, 27 và 28 của Luật này thì được quỹ BHYT thanh toán 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi hưởng[1]. Trong khi đó, người tham gia BHYT theo Khoản 1 Điều 12 (trong đó có người lao động) chỉ được quỹ BHYT thanh toán 80% chi phí khám chữa bệnh trong phạm vi hưởng[2]. Trong trường hợp của anh H, nếu một người thuộc nhiều đối tượng tham gia BHYT thì được hưởng quyền lợi BHYT theo đối tượng có quyền lợi cao nhất[3]. Vì vậy, mặc dù anh H đóng BHYT theo đối tượng người lao động nhưng vẫn được hưởng quyền lợi BHYT theo đối tượng là thân nhân của liệt sĩ.
Quyền lợi BHYT của anh H khi bị tai nạn và phải cấp cứu, điều trị 04 tháng tại bệnh viện tỉnh T.
[1] Điểm a Khoản 1 Điều 22 Luật BHYT năm 2008.
[2] Điểm đ Khoản 1 Điều 22 Luật BHYT năm 2008.
[3] Khoản 2 Điều 22 Luật BHYT năm 2008.
Tải về để xem đầy đủ tài liệu
Định dạng | Link tải |