[Luận văn 2020] Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động trong Bộ luật Hình sự năm 2015 – ThS. Đỗ Thanh Phan
Định dạng | Tải về để xem đầy đủ nội dung |




Định dạng | Tải về để xem đầy đủ nội dung |
Tính cấp thiết của đề tài
Trong cuộc sống, con người luôn phải chịu sự tác động của môi trường xung quanh. Ở nước ta hiện nay, nền công nghiệp ngày càng phát triển đã phá vỡ môi trường sinh thái do chất thải từ các khu công nghiệp tạo ra. Môi trường ô nhiễm có tác động lớn đến sức khoẻ của con người, nên ốm đau bệnh tật là điều khó tránh khỏi. Đặc biệt nước ta đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống xâm lược,hậu quả do chiến tranh để lại là rất nặng nề ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của người dân. Chính vì vậy mà nhu cầu được chăm sóc sức khoẻ, bảo vệ sức khoẻ là một nhu cầu tất yếu của mọi người dân trong cộng đồng xã hội.
Xã hội càng phát triển thì nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng lên. Phương tiện khám chữa bệnh ngày càng hiện đại và đắt tiền. Hệ thống dịch vụ được nâng cấp, đội ngũ cán bộ y tế được đào tạo ngày một chu đáo hơn, lành nghề hơn. Từ đó làm cho chi phí khám chữa bệnh tăng lên rất nhiều. Đặc biệt, ngày nay y học đã phát triển mạnh mẽ, nhiều loại thuốc đặc trị ra đời, nên việc chăm sóc sức khoẻ và chữa bệnh ngày càng đắt đỏ. Vì thế, khi ốm đau không phải ai cũng đủ khả năng để trang trải các khoản chi phí khám chữa bệnh, đặc biệt là những người nghèo. Bởi vậy, Nhà nước ta đã ban hành Luật BHYT 2008 với mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân. Tuy nhiên khi thực hiện trên thực tế Luật BHYT 2008, do các nhà làm luật chưa lường trước được khó khăn về đối tượng tham gia, mức phí đóng, cơ sở khám chữa bệnh nên lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân vào năm 2014 đã không đạt được như mục tiêu đề ra. Vì thế, luật BHYT 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014 ra đời, bổ sung thêm các đối tượng tham gia BHYT, thực hiện khám chữa bệnh liên thông giữa các tuyến.. ..Song, sau 03 năm thực hiện, luật BHYT 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2015) bộc lộ một số bất cập như: chất lượng KCB BHYT chưa đáp ứng được nhu cầu người dân, nhất là ở tuyến y tế cơ sở và các tỉnh vùng sâu, vùng xa nên dẫn tới tình trạng quá tải ở bệnh viện tuyến tỉnh, trung ương. Tình trạng trục lợi BHYT diễn ra phổ biến ở nhiều địa phương..
Thành phố Hà Nội là thủ đô của đất nước, đông dân cư, kinh tế phát triển ổn định với tốc độ cao so với mặt bằng chung của cả nước. Ở thành phố Hà Nội, việc thực hiện pháp luật về BHYT luôn được các ngành, các cấp quan tâm. Khi thực hiện pháp luật BHYT vẫn tồn tại nhiều hạn chế như: độ bao phủ BHYT chưa cao (Theo tổng kết của BHXH thành phố Hà Nội, năm 2017, tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 83,8% dân số). Hơn nữa, do đặc thù của Hà Nội có nhiều bệnh viện lớn của Trung ương và của thành phố, người dân Hà Nội cũng có điều kiện kinh tế khá nên tình trạng vượt tuyến diễn ra tương đối phổ biến. Nhìn chung người tham gia BHYT không muốn đăng ký khám chữa bệnh ban đầu tại trạm y tế phường và nếu có đăng ký tại đây thì họ cũng sẵn sàng vượt tuyến, chấp nhận cùng chi trả. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi bệnh nhân, mà còn gây quá tải cho bệnh viện tuyến trên.Chất lượng KCB BHYT chưa đáp ứng nhu cầu của người tham gia….Vì thế, để thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân đòi hỏi phải có những giải pháp phù hợp cả về chính sách pháp luật và tổ chức thực hiện.
Chính bởi lẽ đó, việc nghiên cứu chuyên sâu về thực trạng pháp luật BHYT và thực tiễn thi hành tại Hà Nội để đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật BHYT, nâng cao chất lượng việc thực hiện pháp luật BHYT tại Hà Nội vô cùng cần thiết. Vì thế, tôi lựa chọn triển khai đề tài: “Pháp luật về bảo hiểm y tế và thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội” cho luận văn cao học của mình.
Tình hình nghiên cứu đề tài
Theo nghiên cứu của tác giả, đến thời điểm này có các công trình nghiên cứu về BHYT ở Việt Nam là:
Sách tham khảo: Pháp luật an sinh xã hội – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, NXB Tư pháp năm 2010 và “Pháp luật về bảo hiểm y tế một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, NXB Tư pháp năm 2015 của tác giả Nguyễn Hiền Phương.
Các bài viết đăng trên tạp chí: bài viết “Nhìn lại một số quy định mới sau khi Luật bảo hiểm y tế đi vào cuộc sống” của tác giả Phạm Văn Chung đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật số 12/2009; bài viết“Tăng cường quản lý nhà nước tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân” của tác giả Nguyễn Huy Quang đăng trên tạp chí Quản lý nhà nước số 182 năm 2011; bài viết “Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế và lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân theo Luật bảo hiểm y tế Việt Nam” của tác giả Đỗ Thị Dung đăng trên tạp chỉ Luật học số 4/2013; loạt bài viết “Quyền lợi của người tham gia BHYT có nhiều điểm mới”, “Sử dụng thẻ bảo hiểm y tế khi khám, chữa bệnh để được hưởng đầy đủ quyền lợi theo Luật bảo hiểm y tế sửa đổi” của tác giả Nguyễn Huy Nghị đăng trên tạp chí luật học năm 2015, “Thực hiện luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật BHYT qua lăng kính giám sát” của tác giả Nguyễn Đức Thụ đăng trên Tạp chí Bảo hiểm xã hội năm 2015, “Bảo hiểm y tế toàn dân – Giải pháp giúp người dân tránh bẫy nghèo” của tác giả Thái Dương trên tạp chí Bảo hiểm xã hội năm 2016 và nhiều bài viết khác.
Đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án: “Đề án thực hiện lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân giai đoạn 2012-2015-2020” đề án cấp nhà nước do Bộ Y Tế chủ trì năm 2013. Luận án“Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật BHYT ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thanh Hương năm 2012, luận án “ Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Hiền Phương năm 2009. Luận văn “Đánh giá Luật bảo hiểm y tế sau 03 năm thực hiện” của tác giả Nguyễn Khánh Linh năm 2013, luận văn “Pháp luật bảo hiểm y tế và thực tiễn thực hiện tại huyện Văn Chấn, Yên Bái” của tác giả Hà Biên Cương năm 2017.
Các báo cáo của BHXH gồm: “Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2011 – Nâng cao năng lực quản lý, đổi mới tài chính y tế để thực hiện kế hoạch 5 năm ngành y tế” của Bộ Y Tế Việt Nam và nhọm đối tác y tế từ năm 2011- 2015, “Báo cáo đánh giá 03 năm thực hiện luật BHYT và đề xuất sửa đổi, bổ sung một số điều của luật BHYT” của Bộ Y Tế năm 2013, báo cáo tổng kết công tác hàng năm, báo cáo sơ kết 3 năm, 5 năm thực hiện luật BHYT của thành phố Hà Nội.
Nhìn chung, các công trình khoa học nêu trên đều đã nghiên cứu các quy định của luật BHYT năm 2008, luật BHYT 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014 và các văn bản hướng dẫn để đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm y tế. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu thực tiễn tại nhiều địa phương khác nhau, chưa có công trình nào nghiên cứu về thực tiễn thi hành luật BHYT tại thành phố Hà Nội.
Bởi vậy, pháp luật về BHYT và thực tiễn thực hiện tại thành phố Hà Nội là đề tài nghiên cứu không trùng lặp với các đề tài nghiên cứu trước đây.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quy định pháp luật hiện hành về BHYT, chủ yếu là luật BHYT 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Bên cạnh đó, luận văn cũng nghiên cứu về việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về BHYT tại thành phố Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Trên cơ sở các số liệu đã thống kê của cơ quan BHXH thành phố Hà Nội về BHYT để đánh giá tình hình thực hiện các quy định của luật BHYT và các văn bản hướng dẫn tại thành phố Hà Nội. Thời điểm lấy số liệu: từ năm 2011 đến hết năm 2017.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của luận văn là khái quát một số vấn đề lý luận chung về BHYT. Trên cơ sở đó tập trung phân tích thực trạng pháp luật về BHYT theo quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội. Từ đó chỉ ra những điểm hạn chế và giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật BHYT 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật BHYT tại thành phố Hà Nội phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:
Một là, nghiên cứu để làm rõ một số vấn đề lý luận về BHYT và pháp luật BHYT. Đồng thời phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về BHYT.
Hai là, nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật BHYT tại thành phố Hà Nội. Từ đó, chỉ ra những ưu điểm và vấn đề còn hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong quá trình thực hiện BHYT tại thành phố Hà Nội.
Các phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp tổng hợp, thống kê
Phương pháp này được sử dụng trong toàn bộ Luận văn để tập hợp, chọn lọc những thông tin trên cơ sở các tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học, báo cáo tổng kết, số liệu thống kê… có ý nghĩa đối với đề tài nghiên cứu, từ đó sắp xếp, khái quát hóa thông tin theo từng nội dung cần luận giải trong mỗi phần của Luận văn.
- Phương pháp mô tả
Phương pháp này được sử dụng để khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trước đây trong nội dung chương 1; đồng thời để mô tả các qui định pháp luật và tình hình thực hiện pháp luật tại chương 2. Thông qua đó, Luận văn “vẽ” nên “bức tranh” tổng quan của pháp luật BHYT Việt Nam theo các nội dung: đối tượng tham gia BHYT, quyền lợi hưởng BHYT, quỹ BHYT và quản lý, tổ chức thực hiện BHYT và thực tiễn thực hiện các quy định này tại thành phố Hà Nội.
- Phương pháp so sánh pháp luật
Phương pháp này được sử dụng chủ yếu tại chương 2 của Luận văn để đối chiếu các quy định pháp luật BHYT Việt Nam trong các thời kỳ khác nhau nhằm làm rõ các vấn đề của pháp luật Việt Nam BHYT hiện nay để từ đó đưa ra các kiến nghị phù hợp.
- Phương pháp phân tích
Phương pháp này được sử dụng chủ yếu tại chương 2 của Luận văn. Theo từng nhóm nội dung: về đối tượng tham gia BHYT, về quyền lợi hưởng BHYT, về quỹ BHYT và về quản lý, tổ chức thực hiện BHYT, tác giả tìm kiếm các vấn đề cần làm rõ trong quy định pháp luật về BHYT cũng như trong việc tìm hiểu thực trạng tổ chức thực hiện BHYT tại thành phố Hà Nội, tìm ra các nguyên nhân của thực trạng đó.
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp dự báo khoa học để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện trên thực tế các quy định pháp luật về BHYT.
Trong quá trình nghiên cứu, tùy từng nội dung trình bày mà luận văn có sự kết hợp đan xen các phương pháp nghiên cứu với nhau nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về BHYT, đóng góp một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật BHYT trên cơ sở khoa học. Đồng thời, qua việc đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về BHYT tại thành phố Hà Nội, luận văn đóng góp một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định này trên thực tế.
Luận văn có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo cho các cơ quan có liên quan trong quá trình hoạch định, xây dựng chính sách, pháp luật về BHYT. Những kết quả nghiên cứu của luận văn cũng có thể được sử dụng để tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập tại các cơ sở đào tạo luật học… và cho các tổ chức, cá nhân quan tâm đến lĩnh vực pháp luật BHYT.
Bố cục của luận văn
Chương I: Tổng quan về bảo hiểm y tế và pháp luật về bảo hiểm y tế ở Việt Nam
Chương II: Thực trạng quy định pháp luật hiện hành về bảo hiểm y tế và thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội.
Chương III: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế tại thành phố Hà Nội.
Định dạng | Tải về để xem đầy đủ nội dung |