[Luận văn 2020] Pháp luật quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay – ThS. Ngô Thu Uyên
Định dạng | Link tải |

Định dạng | Link tải |
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Quá trình đô thị hóa, cùng với việc tăng trưởng kinh tế và dân số một cách nhanh chóng đang tạo ra lượng chất thải ngày càng tăng cao, với khối lượng phát sinh chất thải ở Việt Nam tăng gấp đôi trong vòng chưa đầy 15 năm, tổng lượng chất thải phát sinh trong năm 2015 ước đạt trên 27 triệu tấn Với tốc độ tăng trưởng được dự báo như hiện nay, tổng lượng chất thải ước tính trên cả nước ta có thể đạt đến 54 triệu tấn vào năm 2030.
Dù trong những năm qua, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đất nước, Đảng Quốc hội và Chính phủ đã luôn quan tâm chỉ đạo phát triển kinh tế – xã hội gắn với coi trọng bảo vệ môi trường và đạt được nhiều kết quả tích cực, tạo tiền để tốt để tăng cường công tác bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội, sự gia tăng dân số mạnh mẽ đã làm gia tăng nhanh chóng lượng chất thải rắn phát sinh với thành phần ngày càng phức tạp đã và đang gây khó khăn cho công tác quản lý, xử lý chất thải, đặc biệt là đối với chất thải rắn sinh hoạt.
Trong khi đó, công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở nước ta chưa được áp dụng theo phương thức quản lý tổng hợp, chưa chú trọng đến các giải pháp giảm thiểu tái sử dụng tái chế và thu hồi năng lượng từ chất thải dẫn đến khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phải chôn lấp cao, chưa tiết kiệm quỹ đất, chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu bảo vệ môi trường đã và đang là nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, công tác triển khai các quy hoạch quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại các địa phương còn chậm, việc huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng khu xử lý, nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt còn gặp nhiều khó khăn, đầu tư cho quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt còn chưa tương xứng, nhiều công trình xử lý chất thải rắn sinh hoạt đã được xây dựng và vận hành, nhưng cơ sở vật chất, năng lực và hiệu suất xử lý chưa đạt yêu cầu.
Trong Chiến lược Quốc gia về Quản lý chất thải rắn được phê duyệt gần đây, Việt Nam cam kết tiến tới thu gom, vận chuyển và xử lý 100% chất thải ngoài hộ gia đình và 85% chất thải của các hộ gia đình vào năm 2025 ở các khu vực đô thị. Dự kiến ưu tiên các cơ sở xử lý quy mô lớn sử dụng công nghệ hiện đại và tập trung đáng kể vào việc tái chế và nâng cấp các bãi chôn lấp để ngăn chặn các tác động tới môi trường và sức khỏe. Tuy nhiên, các thành phố, chính quyền địa phương và trung ương hiện đang phải đối mặt với những khó khăn trong thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu hủy các đồng chất thải đang tăng nhanh Việt Nam đã và đang phát triển rất nhanh, chất thải phát sinh đã tăng rất nhanh, đến mức hệ thống thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu hủy cũng như yêu cầu tài chính cho các hệ thống này không thể theo kịp với khối lượng chất thải gia tăng. Đồng thời, các quy định của pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt còn nhiều hạn chế, chưa đầy đủ gây ra nhiều khó khăn cho các chủ thể trong quá trình quản lý. Vì thế việc hoàn thiện pháp luật về chất thải rắn sinh hoạt là một nhu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam, đòi hỏi sự chung tay không chỉ của Nhà nước mà còn cả toàn xã hội. Vì những lý do trên “Pháp luật quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay” được tác giả chọn làm đề tài Luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Những năm gần đây đã công bố một số công trình nghiên cứu về quản lý chất thải như:
Vũ Thị Duyên Thủy (2009), Xây dựng và hoàn thiện pháp luật quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội;
Nguyễn Văn Phương (2007), Pháp luật môi trường Việt Nam về nhập khẩu phế liệu, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội;
Lưu Việt Hùng (2009), Pháp luật quản lý chất thải rắn sinh hoạt, Luận văn Thạc sĩ, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội;
Lê Kim Nguyệt (2001), Hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ;
Nguyễn Thị Quỳnh Chi (2017), Pháp luật quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Nguyễn Mạnh Thắng (2014), Hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Bên cạnh đó, trong những năm qua cũng có những bài nghiên cứu, bài báo, tạp chí về chất thải, có thể kể đến như
“Điều kiện hành nghề vận chuyển chất thải nguy hại dưới góc độ pháp luật môi trường” – TS. Vũ Thị Duyên Thủy (Tạp chí Luật học số tháng 4/2008);
“Khái niệm chất thải và quy định về xuất khẩu chất thải của Cộng hòa liên bang Đức” –TS. Nguyễn Văn Phương (Tạp chí Luật học số tháng 4/2006),
“Chất thải và quy định quản lý chất thải” – TS Nguyễn Văn Phương (Tạp chí Luật học số tháng 4/2003).
Tuy nhiên những để tài trên chỉ mới dừng lại ở việc đánh giá, đề cập đến những khía cạnh của pháp luật quản lý chất thải nói chung quản lý chất thải nguy hại, quản lý chất thải rắn thông thường nói riêng mà chưa đi sâu vào nghiên cứu về pháp luật quản lý chất thải rắn sinh hoạt. Hơn nữa từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường Nghị định số 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 24/04/2017 quy định về Quản lý chất thải và phế liệu Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13/05/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường có hiệu lực thì chưa có thêm một công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về quản lý chất thải rắn sinh hoạt.
Vì vậy, đề tài “Pháp luật quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay” ở một khía cạnh rõ nét và phạm vi cụ thể hơn, ở cấp độ Thạc sĩ là cần thiết.
3. Đối tượng nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt và thực tiễn thực hiện pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt.
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Pháp luật về quản lý chất thải là một phạm trù nghiên cứu rất rộng vì vậy Luận văn không thể nghiên cứu hoạt động quản lý của tất cả các loại chất thải hiện nay, cũng không đi sâu nghiên cứu các lĩnh vực chuyên môn của quản lý chất thải mà chủ yếu đề cập đến các vấn đề pháp lý liên quan đến chất thải rắn sinh hoạt.
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Một là, làm sáng tỏ các khái niệm cơ bản về chất thải rắn sinh hoạt, hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt.
Hai là, nghiên cứu nhu cầu điều chỉnh pháp luật, các yếu tố tác động đối với hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt.
Ba là, phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật để tìm ra các sai sót, vướng mắc, những vấn đề phát sinh các vi phạm pháp luật để từ đó phân tích nguyên nhân của tình trạng này.
Bốn là, đề xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện cơ chế nhằm nâng cao thực thi pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt.
6. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách pháp luật của Đảng Nhà nước về quản lý hành chính nhà nước và các quan điểm định hướng ổn định phát triển kinh tế. Ngoài ra, để giải quyết yêu cầu của đề tài, người viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
– Phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh luật học,… được sử dụng khi nghiên cứu tại chương 1: Khái quát về quản lý chất thải rắn sinh hoạt và lý luận về pháp luật quản lý chất thải rắn sinh hoạt.
– Phương pháp đánh giá, phương pháp thống kê, phương pháp bình luận, đối chiếu… được sử dụng khi nghiên cứu tại chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt.
– Phương pháp chứng minh, phương pháp quy nạp, phương pháp tổng hợp,… được sử dụng khi nghiên cứu tại chương 3: Phương hướng giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Với những nội dung được trình bày, luận văn sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận về quản lý chất thải rắn sinh hoạt và pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt.
Ý nghĩa thực tiễn: Là một đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt, tác giả hi vọng luận văn có giá trị tham khảo nhất định, trước hết đối với những người quan tâm đến vấn đề quản lý chất thải rắn sinh hoạt dưới góc độ pháp lý và là nguồn tham khảo hữu ích trong việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập Bộ môn Luật Môi trường.
8. Cơ cấu của luận văn
Luận văn gồm 3 phần Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Nội dung của luận văn được chia thành ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật quản lý chất thải rắn sinh hoạt.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam và thực tiễn thực hiện.
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt.
Định dạng | Link tải |