[Luận văn 2023] Pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn – thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bình Dương – ThS. Lê Thị Hoài Thương
Định dạng | Link tải |

Định dạng | Link tải |
Lý do chọn thực hiện đề tài
Trên thế giới, dịch vụ Bảo vệ môi trường (trong đó có điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn) là một ngành kinh tế có đóng góp quan trọng vào GDP, được nhiều quốc gia quan tâm, đặc biệt là ở những nước phát triển. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với xu hướng tự do hóa thương mại hàng hóa và dịch vụ ngày càng được mở rộng thì mở cửa thị trường dịch vụ BVMT trở thành một trong những nội dung quan trọng trong các khuôn khổ hợp tác quốc tế. Việt Nam cũng đang phải cam kết thực hiện ngày càng nhiều hơn các cam kết quốc tế có liên quan đến môi trường, trong khi các doanh nghiệp đang gặp phải những thách thức trong việc đáp ứng các yêu cầu về môi trường trong xuất khẩu sang các thị trường của các nước phát triển thì việc mở cửa thị trường dịch vụ BVMT sẽ tạo điều kiện cho các đối tác nước ngoài đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực này tại Việt Nam đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước BVMT với chi phí thấp hơn.
Nhằm mục đích bảo vệ môi trường và tận dụng được nguồn rác thải để tái chế với phương châm “rác là tài nguyên” thì hoạt động thu gom rác thải đóng vai trò rất quan trong trong việc phân loại, tái chế và tận dụng được nguồn tài nguyên này. Để có được nguồn tài nguyên từ rác thì rác thải phải được phân loại, thu gom và tái chế đúng cách.
Đối với hoạt động thu gom rác thải loại khác thì “Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, lượng rác thải rắn thu gom tăng gấp đôi trong khoảng thời gian 2015 – 2019, từ mức 32,4 nghìn tấn/ngày lên 65 nghìn tấn/ngày, trong đó, đô thị thải ra 35,6 nghìn tấn/ngày (hơn 50%). Riêng Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh thải ra 16.000 tấn rác mỗi ngày, tương đương 33,6% cả nước. Năm 2019, chỉ 85% lượng rác thải rắn thu gom được xử lý đạt tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia.”1
Nhà nước định hướng thương mại hóa hoạt động trong môi trường, do vậy Nhà nước cho phép hoạt động thu gom chất thải là hoạt được được phép kinh doanh tuy nhiên hoạt động kinh doanh này là hoạt động kinh doanh có điều kiện. Quy định này xuất phát từ việc chất thải không phải là một loại hàng hóa thông thường, nó cũng không phải chỉ bao gồm rác thải thông thường mà còn bao gồm cả rác thải nguy hại, nếu thu gom không đúng cách thì có thể lại gây ô nhiễm môi trường nghiêm trong hơn. Hơn nữa, quy định về chất thải có thể tái chế của các quốc gia cũng khác nhau do vậy để có thể quản lý, kiểm soát cũng như phát huy được nguồn tài nguyên từ chất thải thì Nhà nước quy định chặt chẽ về điều kiện kinh doanh đối với thu gom chất thải rắn.
Ở tỉnh Bình Dương việc thực hiện các quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR trong thời gian qua đã thu được những thành quả đáng kể trong việc bảo vệ môi trường, tuy nhiên thực tiễn cho thấy vẫn còn nhiều bất cập trong quá trình thực hiện, quá trình thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR của các chủ đầu tư, các cấp chính quyền và Nhân dân vẫn còn mang tính hình thức, chất lượng, hiệu quả không cao. Tình trạng vi phạm pháp luật về môi trường gia tăng đã làm cho môi trường ở nhiều khu vực bị ô nhiễm nghiêm trọng. Mặc dù, văn bản pháp luật về các quy định về điều kiện kinh doanh thu gom CTR được ban hành với số lượng lớn song ít được thực thi hoặc thực thi không đầy đủ làm cho môi trường ở một số địa phương đã và đang bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Do vậy, việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật từ đó tìm ra các nguyên nhân và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR là việc làm hết sức cần thiết. Từ tất cả các lý do nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: ““Pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn – thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bình Dương” để làm luận văn thạc sĩ luật học, chuyên ngành Luật kinh tế.
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, vấn đề bảo vệ môi trường đang ngày càng được quan tâm trong đó có cả những vấn đề về chất thải rắn, do đó khung pháp luật về điều kiện thu gom chất thải rắn cũng có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu như:
Thứ nhất, nhóm các luận văn
Chiêm Phong Phi (2015), “Pháp luật về kinh doanh dịch vụ thu gomchất thải rắn thông thường” , Luận văn thạc sỹ, Trường Đại họcLuật Thành phố Hồ Chí Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận về hoạt động kinh doanh thu gom chất thải rắn thông thường và quy định của pháp luật về kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn thông thường ở những khía cạnh như chủ thể, điều kiện, hợp đồng dịch vụ và trách nhiệm quản lý của cơ quan nhà nước. Từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về kinh doanh dịch vụ chất thải rắn thông thường. Những vẫn đề nghiên cứu tại Luận văn có thể là nguồn tham khảo của cho vấn đề đang nghiên cứu.
Đậu Hổng Cảnh (2019), “Pháp luật về xử lý rác thải sinh hoạt, qua thực tiễn tại tỉnh Quảng Trị”, Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học Luật – Đại học Huế. Luận văn đã khái quát một số vấn đề lý luận về xử lý rác thải sinh hoạt đồng thời nghiên cứu quy định của pháp luật về xử lý rác thải sinh hoạt qua một số nội dung như trách nhiệm của tổ chức, cá nhân phát sinh rác thải sinh hoạt, thu gom rác thải sinh hoạt, hợp đồng dịch vụ, chi phí thu gom … Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật xử lý rác thải sinh hoạt tại tỉnh Quảng Trị qua đó đánh giá thực tiễn và đề xuất một số giải pháp nhằm hoànthiện quy định pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả xử lý rác thải sinh hoạt tại địa bàn nghiên cứu. Mặc dù luận văn này chưa có sự phân tích chuyên sâu về thu gom chất thải rắn, nhưng tại một số nội dung nghiên cứu trong luận văn cóđề cập đến việc thu gom chất thải, hợp đồng thu gom … có thể là nguồn tham khảo cho vấn đề đang được nghiên cứu về điều kiện thu gom chất thải rắn.
Trần Linh Huân (2018), “Pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn nêu lên những vấn đề tổng quan về quản lý chất thải nguy hại và pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại. Nghiên cứu thực trạng pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại, đánh giá thực trạng từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại. Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại, tuy nhiên tại một số nội dung nghiên cứu của luận văn có đề cập đến điều kiện thu gom, điều kiện kinh doanh, yêu cầu vềquản lý Nhà nước … có thể sử dụng để tham khảo cho vấn đề điều kiện thu gom chất thải rắn mà tác giả đang nghiên cứu.
Ngô Thu Uyên (2020), “Pháp luật quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ .Trường Đại học Luật Hà Nội. Luận văn trình bày những vấn đề lý luận về quản lý chất thải rắn sinh hoạt và đưa ra những vấn đề về thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả th hành pháp luật về vấn đề nghiên cứu. Luận văn tập trung nghiên cứu về quản lý chất thải rắn, tuy nhiên, tại một số nội dung nghiên cứu của Luận văn có một phần nhỏ để cập đến vấn đề thu gom chất thải rắn.
Thứ hai, nhóm các bài viết khoa học
Nguyễn Văn Diễm (2022), “Thực trạng thực hiện chính sách thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải trên địa bàn Thành phố Hà Nội”, Tạp chí Công thương điện tử; truy vấn tại: https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/thuc-trang-thuc- hien-chinh-sach-thu-gom-van-chuyen-luu-giu-va-xu-ly-chat-thai-tren-dia-ban- thanh-pho-ha-noi-99701.htm. Bài viết phân tích thực tiễn chính sách và tổ chức thực hiện chính sách thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
Lê Kim Nguyệt, Chử Trọng Nghĩa (2022), “Quản lý chất thải rắn sinh hoạt từ thực tiễn tại Thành phố Hà Nội và đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật điện tử; truy vấn tại: https://danchuphapluat.vn/quan-ly-chat- thai-ran-sinh-hoat-tu-thuc-tien-tai-thanh-pho-ha-noi-va-de-xuat-huong-hoan-thien- phap-luat. Trong bài viết này, nhóm tác giả đánh giá thực trạng về quản lý chất thải rắn sinh hoạt từ thực tiễn tại Thành phố Hà Nội, từ đó, đề ra các yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam.
Hoàng Thị Huê, Bùi Thị Thu Trang, Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Thị Hoài Thương (2022), “Kinh nghiệm quốc tế về quản lý chất thải rắn và bài học đối với Việt Nam”, Tạp chí KH&CN Việt Nam điện tử; truy vấn tại: https://vjst.vn/vn/tin-tuc/6678/kinh-nghiem-quoc-te-ve-quan-ly-chat-thai-ran-va- bai-hoc-doi-voi-viet-nam.aspx. Từ kết quả nghiên cứu của bài viết tác giả nhận định: “Nhiều quốc gia trên thế giới đã có chính sách thiết thực về quản lý, thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH). Để giảm gánh nặng chi phí cho người dân, chính quyền nhiều nơi cũng tiến hành trợ giá cho các công ty thu gom rác. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, khi triển khai những quy định của pháp luật về quản lý CTRSH, hầu hết các quốc gia đều thực hiện theo quy trình, đầu tiên là tham vấn ý kiến cộng đồng, đánh giá nhận thức, thái độ, hành vi của người dân và sau đó triển khai thực hiện. Hiện nay, Luật Bảo vệ môi trường 2020 đã bổ sung nhiều nội dung mới liên quan đến quản lý CTRSH. Tuy nhiên, khi đưa luật vào thực tế đến năm 2025 thì lộ trình cần thiết phải thực hiện là nghiên cứu nhận thức từ đó điều chỉnh hành vi của người dân, đồng thời phổ biến các quy định pháp luật vào cuộc sống”.
Lê Mạnh Tuyến, Mai Thị Chúc Hạnh (2020), “Nâng cao vai trò của cộng đồng trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt”, Tạp chí Công thương điện tử; truy vấn tại: https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/nang-cao-vai-tro-cua-cong-dong-trong- quan-ly-chat-thai-ran-sinh-hoat-75385.htm. Trong bài viết này, tác giả nêu và phân tích khái niệm cũng như vai trò của cộng đồng trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt, từ đó đề xuất biện pháp nâng cao vai trò của cộng đồng trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt.
* Đánh giá về tình hình nghiên cứu và những vấn đề tác giả kế thừa
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đưa ra các quan điểm về điều kiện kinh doanh thu gom CTR và đồng thời cũng đã chỉ ra các đặc điểm, vài trò và phân loại điều kiện kinh doanh thu gom CTR được tác giả kế thừa và phát triển. Đây cũng là cơ sở lý luận làm tiền đề để tác giả tiếp tục phát triển các khái niệm về điều kiện kinh doanh thu gom CTR, pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR.
Thứ hai, các nghiên cứu nêu trên đã mô tả được một phần bức tranh tổng thể thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR và thực trạng áp dụng pháp luật tại Việt Nam trong thời gian qua
Thứ ba, các bài viết, công trình nghiên cứu trên đã phần nào đưa ra được một số nhận định, đánh giá chung về thực trạng pháp luật về phát triển dịch vụ môi trường của Việt Nam và qua đó đóng góp một số giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR của Việt Nam dưới nhiều góc độ khác nhau.
Tuy nhiên những công trình nghiên cứu nêu trên cũng có phần nào còn hạn chế trong phạm vi vấn đề nghiên cứu ở một hoặc một số lĩnh vực cụ thể mà chưa hoàn toàn tập trung vào vấn đề điều kiện kinh doanh thu gom CTR, đồng thời phạm vi thời gian nghiên cứu của các công trình nêu trên cũng đã quá lâu, chưa thực sự phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, yêu cầu của xã hội trong việc thu gom chất thải rắn hiện nay. Do vậy, đề tài nghiên cứu “Pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn, thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bình Dương” là công trình nghiên cứu đảm bảo tính mới về mặt khoa học cũng như đáp ứng được nhu cầu thực tiễn hiện nay với vấn đề môi trường, cụ thể là vấn đề thu gom chất thải rắn.
Định dạng | Link tải |