[Luận văn 2019] Địa vị pháp lý của Ban kiểm soát CTCP theo Luật Doanh nghiệp 2014 – Thực tiễn tỉnh Hòa Bình – ThS. Mai Thu Hà
Định dạng | Link tải |

Mục lục
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| LỜI CAM ĐOAN | |
| DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT | |
| MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài | 1 |
| 2. Tình hình nghiên cứu đề tài | 2 |
| 3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn | 7 |
| 3.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn | 7 |
| 3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn | 7 |
| 4. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn | 7 |
| 5. Các phương pháp nghiên cứu sử dụng để thực hiện luận văn | 8 |
| 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn | 8 |
| 7. Kết cấu của luận văn | 9 |
| CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ BAN KIỂM SOÁT TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BAN KIỂM SOÁT TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM | 10 |
| 1.1. Khái quát về hoạt động kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật, điều lệ trong công ty cổ phần | 10 |
| 1.1.1. Bản chất của việc kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật, điều lệ trong công ty cổ phần | 10 |
| 1.1.2. Vai trò, chức năng của việc kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật, điều lệ trong công ty cổ phần | 12 |
| 1.1.3. Mối quan hệ giữa Ban kiểm soát với các cơ quan quản lý, điều hành, cổ đông trong công ty cổ phần | 13 |
| 1.2. Pháp luật về tổ chức và hoạt động của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần | 17 |
| 1.2.1. Nội dung chủ yếu của pháp luật về tổ chức và hoạt động của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần | 17 |
| 1.2.2. Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về tổ chức và hoạt động của Bm kiểm soát trong công ty cổ phần ở Việt Nam | 22 |
| KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 | 34 |
| CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BAN KIỂM SOÁT TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM | 36 |
| 2.1. Các quy định pháp luật về tổ chức của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần ở Việt Nam | 36 |
| 2.1.1. Quy định về tiêu chuẩn và điều kiện trở thành thành viên Ban kiểm soát | 36 |
| 2.1.2. Quy định về việc bầu thành viên Ban kiểm soát | 38 |
| 2.1.3. Quy định về miễn nhiệm, bãi nhiệm và bổ sung thành viên Ban kiểm soát | 41 |
| 2.1.4. Quy định về thành phần, cơ cấu của Ban kiểm soát | 43 |
| 2.1.5. Quy định về Trưởng Ban kiểm soát | 44 |
| 2.1.6 Quy định về các quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát | 45 |
| 2.2. Các quy định pháp luật về hoạt động của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần ở Việt Nam | 54 |
| 2.2.1. Quy định về cuộc họp của Ban kiểm soát | 54 |
| 2.2.2. Quy định về quan hệ giữa Ban kiểm soát với Hội đồng quản trị | 56 |
| 2.2.3. Quy định về quan hệ giữa Ban kiểm soát với Giám đốc Tổng giám đốc của công ty cổ phần | 58 |
| 2.2.4. Quy định về quan hệ giữa Ban kiểm soát với các cổ đông trong công ty cổ phần | 59 |
| 2.3. Thực tiễn thi hành các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của Ban kiểm soát trong các công ty cổ phần ở tỉnh Hòa Bình | 62 |
| 2.3.1. Những thành tựu đã đạt được trong thực tiễn thi hành các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của Ban kiểm soát trong các công ty cổ phần ở tỉnh Hòa Bình | 62 |
| 2.3.2. Một số bất cập trong thực tiễn thi hành các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của Ban kiểm soát trong các công ty cổ phần ở tỉnh Hòa Bình | 64 |
| 2.3.3. Nguyên nhân của các bất cập trong thực tiễn thi hành các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của Ban kiểm soát trong các công ty cổ phần ở tỉnh Hòa Bình | 66 |
| KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 | 71 |
| CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BAN KIỂM SOÁT TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM | 72 |
| 3.1. Các nguyên tắc của việc hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần ở Việt Nam | 72 |
| 3.1.1. Việc hoàn thiện pháp luật về Ban kiểm soát phải tiếp tục thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng về hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền tự chủ của các doanh nghiệp | 72 |
| 3.1.2. Việc hoàn thiện pháp luật về Ban kiểm soát cần phải phát huy được những ưu điểm và thành công, khắc phục được những nhược điểm, bất cập của những quy định pháp luật về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần | 73 |
| 3.1.3. Việc hoàn thiện pháp luật về Ban kiểm soát phải tham khảo ý kiến của các nhà đầu tư, của các công ty cổ phần ở Việt Nam để đáp ứng được yêu cầu chính đáng của các tổ chức, cá nhân này, bảo đảm được lợi ích của xã hội và của nhà nước | 74 |
| 3.1.4. Việc hoàn thiện pháp luật về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần phải tham khảo kinh nghiệm của các nước khác trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần | 74 |
| 3.2. Phương hướng của việc hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần ở Việt Nam | 75 |
| 3.2.1. Xây dựng thể chế phù hợp cho tổ chức và hoạt động của Ban kiểm soát để đảm bảo chức năng, quyền hạn và tính độc lập của Ban kiểm soát | 75 |
| 3.2.2. Xây dựng các chế tài đối với việc Ban kiểm soát thực hiện hoặc không thực hiện các chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của mình | 76 |
| 3.2.3. Coi Ban kiểm soát là một công cụ đắc lực giúp doanh nghiệp kiểm soát tốt hơn các hoạt động của mình | 76 |
| 3.2.4. Xác lập một hệ thống thông tin đặc biệt cho Ban kiểm soát | 76 |
| 3.3. Một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần ở Việt Nam | 76 |
| 3.3.1. Sửa đổi quy định về bầu các thành viên Ban kiểm soát trong công ty cổ phần | 77 |
| 3.3.2. Việc quyết định các khoản thù lao cho Ban kiểm soát là do Đại hội đồng cổ đông | 77 |
| 3.3.3. Tạo cơ chế phù hợp cho việc Ban kiểm soát kiểm tra, giám sát các hoạt động của Hội đồng quản trị và Giám đốc Tổng giám đốc trong việc thi hành pháp luật, điều lệ, nội quy của công ty cổ phần | 77 |
| 3.3.4. Bổ sung quy định về quyền của Kiểm soát viên và hoặc của Ban kiểm soát được quyền khởi kiện tại Tòa án đối với các hành vi của thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc Tổng giám đốc vi phạm pháp luật, Điều lệ, nội quy của công ty cổ phần (nếu có) | 78 |
| 3.4. Một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về tổ chức và hoạt động của Ban kiểm soát trong các công ty cổ phần ở tỉnh Hòa Bình | 79 |
| 3.4.1. Cầu tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các quy định của pháp luật, Điều lệ, nội quy của doanh nghiệp về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Kiểm soát viên/ Ban kiểm soát | 79 |
| 3.4.2. Công ty cổ phần phải bầu tuyển dụng và đào tạo được những người có đủ tư cách, trình độ, kiến thức, kinh nghiệm đáp ứng được các điều kiện cần thiết để làm Kiểm soát viên | 79 |
| 3.4.3. Công ty cổ phần phải tạo điều kiện thuận lợi cho các Kiểm soát viên được thường xuyên học tập, trau dồi kiến thức, trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật, Điều lệ, nội quy của công ty cổ phần | 80 |
| 3.4.4. Doanh nghiệp phải xây dựng và áp dụng chế độ hương, thưởng thỏa đáng, tạo môi trường công tác thuận lợi cho các Kiểm soát viên yên tâm làm việc, không ngại đấu tranh cho lợi ích chính đáng của các thành viên và cổ đông, của người lao động và của công ty cổ phần | 80 |
| 3.4.5. Công ty cổ phần phải xây dựng và ban hành hệ thống các quy chế nội bộ đầy đủ, hợp lý | 81 |
| KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 | 82 |
| KẾT LUẬN | 85 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 88 |
Định dạng | Link tải |
Tình hình nghiên cứu đề tài
Những nội dung về hoặc liên quan đến đề tài luận văn này đã được nhiều tác giả nghiên cứu ở nhiều công trình nghiên cứu khoa học, đặc biệt là các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ Luật học, với các góc độ khác nhau. Có thể nêu ra đây kết quả nghiên cứu trong các luận văn thạc sĩ luật học của các tác giả như sau: “Chế định Ban kiểm soát của công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2005” luận văn thạc sĩ của Ngô Đình Lập, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2014, “Pháp luật về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2005” luận văn thạc sĩ của Đoàn Mạnh Quỳnh, năm 2010, “Quản trị công ty cổ phần theo mô hình có Ban kiểm soát theo Luật Doanh nghiệp 2014” luận văn thạc sĩ của Nguyễn Nữ Huyền Học viện Khoa học Xã hội, Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, năm 2016.
Một số bài báo khoa học cũng đã được các tác giả công bố trên các tạp chí chuyên ngành Luật hoặc trên mạng internet. Đó là các bài viết của các tác giả sau “Ban kiểm soát trong công ty cổ phần” của Trần Minh Sơn http://www.luatminhkhue.vn, truy cập ngày 28/4/2019, “Ban kiểm soát không thể… kiểm soát” của Bích Diệp. http://www.dantri.com.vn truy cập ngày 28/4/019; “Về hoạt động giám sát của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần” của Nguyễn Thị Lan Hương Tạp chí Khoa học – Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học số 27 (2011), “Các quy định pháp luật về Ban kiểm soát trong doanh nghiệp – Thực trạng và các giải pháp hoàn thiện” của Trần Ngọc Dũng Tạp chí Luật học số 11/2018; “Vai trò của ban kiểm soát trong công ty cổ phần” của Trần Thanh Tùng https://www.thesaigontimes.vn/18001, truy cập ngày 28/4/2019.
Có thể thấy các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến việc tổ chức và hoạt động của BKS trong CTCP ở các mức độ khác nhau và đã đưa ra được những kiến nghị đáng chú ý về việc hoàn thiện các quy định về BKS trong CTCP. Tác giả Ngô Đình Lập đã tập trung nghiên cứu chủ yếu về chế định BKS được quy định trong Luật Doanh nghiệp 2005 thông qua việc so sánh Luật Doanh nghiệp 1999 và dự thảo Luật Doanh nghiệp 2014. Tác giả đã phân tích để chỉ ra những bất cập, hạn chế và thiếu sót của chế định này với vai trò là một trong những công cụ quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư.
Tác giả Nguyễn Nữ Huyền nghiên cứu những vấn đề về quản trị CTCP theo mô hình có BKS theo Luật Doanh nghiệp 2014 như: các khái niệm, cơ sở pháp lý, nền tảng khoa học, các vấn đề có liên quan đến quản trị CTCP theo mô hình có BKS. Tác giả đã đánh giá chính xác thực trạng quản trị CTCP theo mô hình có BKS. Tác giả đã chỉ ra những tồn tại, bất cập trong việc áp dụng thực thi các quy định của pháp luật về quản trị CTCP theo mô hình có BKS. Tác giả cũng nêu ra những vấn đề chưa hợp lý, những quy định còn thiếu trong các quy định về quản trị CTCP theo mô hình có BKS. Tác giả đã phân tích nguyên tắc quản trị CTCP đang được nhiều nước trên thế giới lựa chọn áp dụng đồng thời cũng nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quản trị CTCP của một số nước trên thế giới, đồng thời đưa ra một số đề xuất và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về cơ chế quản trị CTCP theo mô hình có BKS.
Tác giả Trần Minh Sơn trong bài viết “Ban kiểm soát trong công ty cổ phần” đã chỉ ra thực trạng hoạt động của BKS trong các CTCP ở Việt Nam chưa thể hiện đầy đủ vai trò bảo vệ cổ đông và nhà đầu tư Báo cáo của BKS trong các kỳ Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) có nội dung như bản sao các báo cáo của Hội đồng quản trị (HĐQT) và Ban Giám đốc, rất ít thông tin có ích cho cổ đông. Có rất nhiều việc làm sai trái của HĐQT và Ban Giám đốc ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của cổ đông nhưng không hề có tiếng nói cảnh báo nào từ BKS cho đến khi sự việc bị phát hiện BKS chưa thực thi quyền hạn triệu tập họp ĐHĐCĐ khi HĐQT không triệu tập họp hoặc có vi phạm nghĩa vụ quản lý. Tác giả đã nêu lên những nguyên nhân khiển hoạt động của BKS không hiệu quả ĐHĐCĐ bầu ra BKS nhưng lại trao quyền cho Chủ tịch HĐQT ban hành quy chế hoạt động của BKS nên HĐQT và Ban Giám đốc luôn tìm cách để tránh khỏi sự kiểm soát của BKS hoặc giới hạn quyền của BKS tới mức có thể nhằm mở rộng quyền của mình, Thành viên BKS chỉ là một người lao động bình thường một nhân viên cấp thấp trong công ty chịu sự quản lý của HĐQT và Ban Giám đốc nên BKS không thể độc lập kiểm soát hoạt động của công ty, Vai trò của BKS chưa được các văn bản luật đề cao, văn bản do BKS ban hành về việc kiểm tra, giám sát chỉ có ý nghĩa cảnh báo, Báo cáo của BKS thường được trình cho ĐHĐCĐ vào mỗi kỳ họp, thời gian giữa các kỳ họp lại quá xa nên báo cáo của BKS không còn tính thời sự. Từ đó tác giả đưa ra một số đề xuất để hoạt động của BKS được hiệu quả hơn như hoạt động của BKS cần được điều chỉnh bởi một khung pháp lý rõ ràng hơn, đồng thời chính cổ đông phải hiểu rõ và sử dụng vai trò của BKS một cách thông minh và phù hợp, khi được cổ đông tin tưởng và trao quyền BKS phải có đủ khả năng và dũng khí thực thi nhiệm vụ các báo cáo của BKS phải thể hiện được tính độc lập và chính xác.
Tác giả Bích Diệp đã chỉ ra một thực tế trong các CTCP là BKS không thể kiểm soát, do các thành viên của BKS rất khó có thể “kiểm soát” được các thành viên HĐQT vì đó là những người có cả “tiền” và “quyền” và có tác động rất lớn đến việc bổ nhiệm các thành viên BKS”, khi HĐQT mở rộng quyền đưa người thân cận vào “kiểm soát” thì sẽ dẫn đến tâm lý “dĩ hòa vi quý”; BKS vẫn đang bị “khống chế” bởi khoản thù lao do chính doanh nghiệp chi trả cũng như bị ràng buộc bởi những mối quan hệ cá nhân nên tính độc lập của BKS vẫn còn bị ảnh hưởng. Các doanh nghiệp không xem trọng vai trò của BKS, quan điểm của doanh nghiệp khi thành lập BKS là để tuân thủ pháp luật, do đó doanh nghiệp không đầu tư, trang bị đầy đủ cho BKS thực hiện tốt chức năng giám sát của họ, BKS không có đủ nguồn nhân lực, rất ít thành viên BKS làm việc toàn thời gian, phần lớn là làm việc bán thời gian, kiêm nhiệm, BKS còn thiếu công cụ thu thập thông tin phục vụ chức năng giám sát, họ không được trang bị một hệ thống thông tin quản lý đặc thù cho công việc giám sát; Theo thông lệ quốc tế, để thực hiện công tác giám sát hoạt động của doanh nghiệp, thưởng các thành viên trong BKS phải hỗ trợ nhau để đảm bảo có ít nhất 4 nhóm kỹ năng chính là năng lực quản lý rủi ro, năng lực chuyên môn về kế toán, kiểm toán năng lực về hoạt động kinh doanh cốt lõi của doanh nghiệp và năng lực giám sát sự tuân thủ pháp luật. Tuy nhiên rất ít doanh nghiệp ở Việt Nam có một đội ngũ BKS hội đủ 4 yếu tố này.
Tác giả Nguyễn Thị Lan Hương trong bài viết “Về hoạt động giám sát của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần” từ chỗ xác định các hoạt động của BKS như: Thẩm định báo cáo kinh doanh và báo cáo tài chính; Giám sát hoạt động đầu tư; Phát hiện và yêu cầu chấm dứt vi phạm, tác giả đã đưa ra một số kiến nghị: Bảo đảm vị trí độc lập của BKS, cần đặt ra tiêu chuẩn cụ thể và giám sát chặt chẽ việc áp dụng tiêu chuẩn, điều kiện của thành viên BKS từ khi ứng cử đến khi hết nhiệm kỳ nhằm đảm bảo vị trí độc lập của thành viên BKS trong thực hiện thẩm quyền và nhiệm vụ được giao; Yêu cầu đối với thẩm định báo cáo cần thiết phải yêu cầu về nội dung của báo cáo quý, bán niên và thường niên, cần có giải trình liên quan đến lợi ích, có như vậy báo cáo thẩm định của BKS mới có ý nghĩa trong việc chấn chỉnh xung đột hoạt động của các thành viên HĐQT và Giám đốc Tổng giám đốc (GĐ/TGĐ) và vì lợi ích của cổ đông và của công ty; Bổ sung thẩm quyền đại diện khởi kiện của BKS, nhằm nâng cao vị trí và phát huy vai trò của BKS trong quản trị nội bộ CTCP; Nâng cao nhận thức của cổ đông về vị trí quan trọng của BKS trong giám sát công ty, cổ đông khi tham gia góp vốn vào CTCP cần thiết phải nhận thức được quyền của mình, đồng thời thông qua thẩm quyền ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của HĐQT và BKS để hoàn chỉnh cơ chế giám sát nội bộ theo hướng củng cố vị trí độc lập của BKS, quy định nghĩa vụ phối hợp hoạt động của HĐQT với BKS nhằm hạn chế tình trạng lạm dụng quyền hạn của người quản lý, điều hành.
Tác giả Trần Ngọc Dũng trong bài báo “Các quy định pháp luật về Ban kiểm soát trong doanh nghiệp – Thực trạng và các giải pháp hoàn thiện” đã phân tích những bất cập trong các quy định pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý của kiểm soát viên (KSV)/BKS trong các loại hình doanh nghiệp như: Các tiêu chuẩn đối với KSV không được áp dụng thống nhất trong các loại hình doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn (TNHH), CTCP; KSV/BKS không được cung cấp đầy đủ các tài liệu, thông tin cần thiết về tổ chức, hoạt động của doanh nghiệp để có thể kiểm tra, giám sát tốt việc thi hành pháp luật, điều lệ, nội quy của doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp 2014 chưa quy định rõ ràng rằng KSV phải làm việc chuyên trách, không kiêm nhiệm; Luật Doanh nghiệp 2014 chưa quy định rõ ràng về chế độ lương thưởng hợp lý đối với KSV để bảo đảm cho họ làm việc hết mình vì doanh nghiệp. Từ đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc tổ chức và hoạt động của KSV/BKS trong các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam, góp phần thiết thực vào sự ổn định và phát triển bền vững của các doanh nghiệp. Các tiêu chuẩn đối với KSV cần được đặt ra và áp dụng thống nhất đối với tất cả các KSV trong các loại hình doanh nghiệp, chủ không chỉ áp dụng trong các DNNN, trong công ty TNHH một thành viên hay trong CTCP; Pháp luật về doanh nghiệp cần bổ sung quy định về quyền của KSV/BKS được quyền khỏi kiện tại Tòa án đối với các hành vi của thành viên HĐQT, GĐ/TGĐ và phạm pháp luật, điều lệ, nội quy của doanh nghiệp; Pháp luật về doanh nghiệp cần quy định chế độ cung cấp thông tin đặc biệt (thường xuyên, đầy đủ chi tiết) đối với KSV/BKS; Cần có quy định rõ ràng trong Luật Doanh nghiệp 2014 rằng KSV phải làm việc độc lập với các cá nhân hoặc cơ quan quản lý, điều hành doanh nghiệp, làm việc chuyên trách, không kiêm nhiệm; Chế độ lương thưởng đối với KSV là do Đại hội hội thành viên hoặc ĐHĐCĐ quyết định; Cần tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các quy định của pháp luật, điều lệ, nội quy của doanh nghiệp về vai trò, chức năng nhiệm vụ của KSV và/hoặc của BKS; Doanh nghiệp phải tuyển chọn, tuyển dụng được những người có đủ tư cách trình độ, kiến thức, kinh nghiệm đáp ứng được các điều kiện cần thiết để làm KSV; Doanh nghiệp phải tạo điều kiện thuận lợi cho các KSV được thường xuyên học tập, trau dồi kiến thức, trình độ, kinh nghiệm kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật, điều lệ, nội quy của doanh nghiệp; Doanh nghiệp phải xây dựng và áp dụng chế độ lương thưởng tạo môi trường công tác hợp lý cho các KSV yên tâm làm việc, không ngại đấu tranh cho lợi ích của doanh nghiệp.
Tải về tại đây để xem đầy đủ tài liệu
Định dạng | Link tải |