[Luận văn 2019] Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng – ThS. Nguyễn Duy Phong
Định dạng | Link tải |

Định dạng | Link tải |
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng là một Tổ chức tín dụng kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền gửi đó để cho vay đầu tư, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm các phương tiện thanh toán. Cùng với sự nghiệp đổi mới và phát triển đi lên của đất nước thì không thể phủ nhận vai trò đóng góp to lớn của ngành Ngân hàng. Các vai trò chủ yếu của Ngân hàng, cụ thể: (i) Là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, là công cụ quan trọng thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất; (ii) Là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường thông qua hoạt động tín dụng của Ngân hàng đối với các doanh nghiệp, (iii) Là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thông qua hoạt động của Ngân hàng Thương mại, Ngân hàng Trung ương thực hiện chính sách tiền tệ phục vụ các mục tiêu ngắn hạn hoặc dài hạn của Chính phủ bằng các công cụ như ấn định hạn mức tín dụng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở để tác động tới lượng tiền cung ứng trong lưu thông và (iv) Là cấu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế Luật các Tổ chức tín dụng được Quốc hội thông qua ngày 16/06/2010, bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2017, bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 15/01/2018 đến nay đã và đang là quy định để các Ngân hàng và các Đơn vị có liên quan đối chiếu, triển khai việc thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể Tổ chức tín dụng. Đến thời điểm hiện tại, Việt Nam có 4 Ngân hàng 100% vốn nhà nước, 31 Ngân hàng Thương mại cổ phần, 9 Ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 2 Ngân hàng Liên doanh, 2 Ngân hàng chính sách và 1 Ngân hàng hợp tác xã. Các Ngân hàng phát triển mạnh mẽ ở nhiều tỉnh, thành phố, trong đó đặc biệt tập trung phát triển ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng, cụ thể: (i) Hoạt động huy động vốn, thông qua nghiệp vụ này Ngân hàng thực hiện chức năng tạo tiền; (ii) Hoạt động sử dụng vốn, thực hiện nghiệp vụ này Ngân hàng không những đã thực hiện được chức năng xã hội của mình thông qua việc mở rộng vốn đầu tư, gia tăng sản phẩm xã hội, cải thiện đời sống nhân dân mà còn có ý nghĩa rất lớn đến toàn bộ đời sống kỹ thuật thông qua các hoạt động tài trợ cho các ngành, các lĩnh vực phát triển công nghiệp, nông nghiệp trong nền kinh tế, góp phần điều hòa lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế và (iii) Hoạt động trung gian thanh toán, hoạt động này góp phần làm tăng lợi nhuận thông qua việc thu phí dịch vụ thanh toán và đồng thời làm tăng nguồn vốn cho vay của Ngân hàng thể hiện trên số dư có tài khoản tiền gửi của khách hàng.
Tuy nhiên, sau khoảng 10 năm Luật các Tổ chức tín dụng có hiệu lực, hoạt động của các Ngân hàng đã bộc lộ khá nhiều bất cập. Vào thời điểm 2010 – 2011, thông tin về việc bắt giữ các cán bộ cao cấp của Ngân hàng, kết quả điều tra xác định số tiền thiệt hại đã gây chấn động dư luận và đặt ra nhiều câu hỏi. Chẳng hạn, trường hợp vụ án Huỳnh Thị Huyền Như, một trưởng phòng giao dịch của VietinBank đã chiếm đoạt gần 4.000 tỷ đồng và số tiền qua tay Huyền Như còn lớn hơn thế. Nếu vụ án Huyền Như có điểm nhấn là số tiền quá lớn và vấn đề bồi thường dân sự, thì vụ án xảy ra tại Ngân hàng Á Châu (ACB) lại thu hút sự quan tâm khi những lãnh đạo cao cấp nhất của Ngân hàng bị bắt giam Không chỉ Phó chủ tịch Hội đồng sáng lập Nguyễn Đức Kiên (còn được gọi là bầu Kiên), mà cả Tổng giám đốc, các Phó tổng giám đốc của Ngân hàng cũng bị khởi tố, điều tra, xét xử. Tiếp đó là hàng loạt vụ án đình đám của ngành ngân hàng như vụ án xảy ra tại OceanBank khiến cựu Chủ tịch HĐQT Hà Văn Thắm phải lĩnh án chung thân, 34 cán bộ ngân hàng nguyên là Giám đốc/Phó giám đốc các Chi nhánh phải ra tòa. Một vụ án khác có sự liên lụy rất lớn, đó là vụ án Phạm Công Danh. Năm 2014, 3 lãnh đạo của Ngân hàng Xây dựng (VNCB) gồm Phạm Công Danh, nguyên Chủ tịch HĐQT, Phan Thành Mai, nguyên Tổng giám đốc, Mai Hữu Khương, nguyên Giám đốc Chi nhánh Sài Gòn đã bị khởi tố, bắt tạm giam để phục vụ điều tra. Năm 2017, Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng chỉ đạo cơ quan tiến hành tố tụng kết thúc điều tra, truy tố, xét xử 12 đại án kinh tế, trong đó có tới 5 đại án liên quan đến VNCB. Trong đó, giai đoạn 2 của vụ án có 3 ngân hàng liên quan gồm Sacombank, TPBank, BIDV, số thiệt hại được cáo trạng xác định là hơn 6.000 tỷ đồng. Ông Trầm Bê, nguyên Chủ tịch HĐQT Sacombank, bị khởi tố, bắt tạm giam và đưa ra xét xử. Ông Trần Bắc Hà, nguyên Chủ tịch HĐQT BIDV cũng bị bắt tạm giam đê phục vụ điều tra. Trong 10 năm qua, cùng với các đại án, câu chuyện rủi ro pháp lý trong kinh doanh nói chung và ngành ngân hàng nói riêng được quan tâm hơn bao giờ hết. Với quan điểm ngành ngân hàng là ngành đặc thù, có liên quan đến sự ổn định hệ thống nền kinh tế, nhiều thông tin, nhiều vấn đề thường được xem xét, cân nhắc ở mức độ thận trọng nhằm tránh ảnh hưởng lan rộng. Nhưng từ các vụ án, nhiều vấn đề đã bộc lộ và câu hỏi trách nhiệm của cơ quan quản lý cũng được mang tới nhiều phiên tòa. Bên cạnh đó, nhân sự trong ngành ngân hàng không chỉ quan tâm mức lương, thường, mà còn buộc phải biết rủi ro pháp lý trong công tác hàng ngày, trong từng giao dịch thực hiện để tự rào chắn bản thân khỏi những rủi ro.
Có thể thấy quản lý nhà nước về tiền tệ và ngân hàng là một trong những hoạt động của quản lý hành chính nhà nước, trong đó phát hiện vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính có vai trò là một khâu thiết yếu trong quản lý hành chính nhà nước. Thông qua hoạt động xử phạt vi phạm hành chính sẽ rà soát, đánh giá được thực trạng về tổ chức, hoạt động ngân hàng, nắm bắt được những khó khăn, vướng mắc về nghiệp vụ, từ đó có kết luận, kiến nghị cụ thể để cấp có thẩm quyền kịp thời xem xét, có biện pháp chấn chỉnh về tổ chức, hoạt động, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật về Tổ chức tín dụng.
Luật Xử lý vi phạm hành chính được Quốc Hội thông qua ngày 20/6/2012 đã giải quyết cơ bản những tồn tại, hạn chế bất cập của pháp luật xử lý vi phạm hành chính trước đây, đổi mới trình tự, thủ tục trong xử lý vi phạm hành chính nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch, công bằng trong áp dụng pháp luật, bảo đảm các quyền cơ bản của công dân, quyền con người trong xử lý vi phạm hành chính, đồng thời bảo đảm tính kế thừa các quy định pháp luật hợp lý đã được thực tiễn kiểm nghiệm từ trước đến nay về xử lý vi phạm hành chính, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật xử lý vi phạm hành chính và của tổng thể hệ thống pháp luật Việt Nam Đối với lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, Chính phủ đã ban hành Nghị định 38/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.
Xuất phát từ các cơ sở nêu trên, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng ở Việt Nam hiện nay có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết. Với mong muốn góp phần nhận thức đầy đủ, đánh giá toàn diện về vấn để này, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài “Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng” làm luận văn thạc sĩ. Hy vọng việc nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu
Vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính là một trong những vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm. Bởi lẽ, vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính không chỉ đảm bảo trật tự, an ninh và an toàn xã hội mà còn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân trong xã hội. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này tiêu biểu như:
Luận văn thạc sỹ luật học “Hoàn thiện quy định pháp luật về các hình thức xử phạt vi phạm hành chính” của tác giả Nguyễn Trọng Bình, Trưởng Đại học Luật Hà Nội (2000);
Luận văn thạc sỹ luật học “Hoàn thiện chế định thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính” của tác giả Nguyễn Thị Thủy, Trưởng Đại học Luật Hà Nội (2001);
Và còn rất nhiều bài viết liên quan đến vấn đề này như: “Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính”, tác giả Nguyễn Ngọc Bích, tạp chí Luật học, “Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và những bất cập trong quy định pháp luật hiện hành”, tác giả Nguyễn Ngọc Bích, tạp chí Luật học, số 8/2007; “Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính – thực trạng quy định, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện”, tác giả Trần Minh Hương, tạp chí Luật học, số 8/2008; “Hoàn thiện pháp luật về hình thức, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính”, tác giả Trần Thị Hiển, tạp chí Luật học, số 11/2011, “Một số vấn đề hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính”, tác giả Lê Vương Long, tạp chí Luật học, số Đặc san về Xử lý vi phạm hành chính, “Nâng cao hiệu quả áp dụng các hình thức xử phạt vi phạm hành chính”, tác giả Quách Tiên Phong, tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 20/2011, “Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính theo pháp luật hiện hành”, tác giả Bùi Thị Đào và Hoàng Thị Lan Phương, tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 23; “Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo pháp luật hiện hành”, tác giả Bùi Thị Đào, tạp chí Luật học, số 9/2016,…
Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều công trình khoa học đi sâu vào nghiên cứu vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong những lĩnh vực cụ thể, điển hình như:
Luận văn thạc sỹ luật học “Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường” của tác giả Phan Thị Tố Uyên, Trưởng Đại học Luật Hà Nội (2011);
Luận văn thạc sỹ luật học “Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Lê Thị Thu Lan, Trường Đại học Luật Hà Nội (2012);
Luận văn thạc sỹ luật học “Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng” của tác giả Nguyễn Hà Thanh, Trường Đại học Luật Hà Nội (2014);
Luận văn thạc sỹ luật học “Vi phạm hành chính và Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công chứng” của tác giả Nguyễn Phương Dung, Trường Đại học Luật Hà Nội (2014);
Luận văn thạc sỹ luật học “Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng không – thực tiễn tại các cảng hàng không khu vực phía Bắc” của tác giả Vũ Thị Kim Ngọc, Trường Đại học Luật Hà Nội (2018);
Luận văn thạc sỹ luật học “Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai – Thực tiễn tại Hà Nội” của tác giả Phan Huy Tích, Trường Đại học Luật Hà Nội (2019);
Luận văn thạc sỹ luật học “Xử phạt vi phạm hành chính về phòng, chống tác hại của thuốc là tại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hương, Trường Đại học Luật Hà Nội (2019),
Những tài liệu nói trên chủ yếu nghiên cứu về vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính nói chung hoặc xử phạt vi phạm hành chính trong những lĩnh vực cụ thể trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận có liên quan, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn hoạt động xử phạt để đưa ra giải pháp hoàn thiện. Tuy nhiên, đối với lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, hiện chưa có nhiều tài liệu, công trình khoa học đi sâu tìm hiểu về vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính.
Một vài công trình khoa học có đề cập đến vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính đối với lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, như “Xây dựng cơ chế xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động Ngân hàng theo Luật Ngân hàng”, tác giả Vũ Thế Vậc, tạp chí Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, số 1/1999; “Hoàn thiện khuôn khổ pháp luật ngân hàng để nâng cao vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ”, tác giả Vũ Thế Vậc, tạp chí Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, số 2+3/2010.
Có thể thấy, không có nhiều tài liệu liên quan đến nội dung vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng. Các bài viết mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá và xây dựng cơ chế xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, chưa có tìm hiểu chuyên sâu về những vấn đề lý luận về vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính, thực trạng pháp luật và thực tiễn xử phạt vi phạm hành chính, các giải pháp nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.
3. Phạm vi nghiên cứu
Tiền tệ và ngân hàng là một lĩnh vực rộng và phức tạp. Vì vậy, trong khuôn khổ của đề tài luận văn thạc sỹ, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu và làm rõ các nội dung quan trọng của vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng trên cơ sở quy định của pháp luật hiện hành và đánh giá tình hình vi phạm và xử phạt vi phạm trong lĩnh vực này trong thời gian gần đây.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và lịch sử, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về hoạt động tiền tệ và ngân hàng và vi phạm hành chính, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng để tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển quy định pháp luật, phân tích, đánh giá tính khả thi của các quy phạm pháp luật, định hướng cho các giải pháp nhằm hạn chế vi phạm hành chính và nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được luận văn sử dụng là phương pháp phân tích, tư duy logic và phương pháp so sánh để làm sáng tỏ các vấn để lý luận và thực tiễn liên quan đến hành vi vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, phương pháp tổng hợp, thống kê để đánh giá thực trạng vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích quan trọng mà luận văn hướng tới là trên cơ sở nghiên cứu lý luận, các quy định pháp luật và thực trạng về vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, phân tích các nguyên nhân, dẫn đến những hành vi vi phạm và những hạn chế, bất cập trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân trong xã hội, đảm bảo tính pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung vào những nhiệm vụ cơ bản sau
Một là, nghiên cứu những vấn đề lý luận về vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, làm rõ những điểm đặc thù của vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng với vi phạm và xử phạt vi phạm hành chính nói chung và trong những lĩnh vực cụ thể khác;
Hai là, phân tích quy định pháp luật hiện hành về vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng;
Ba là, đánh giá thực tiễn vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng;
Bốn là, đưa ra những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, bất cập trong xác định hành vi vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng;
Năm là, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của đề tài
Trong thời gian qua có khá nhiều đề tài, luận văn, luận án nghiên cứu về vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong những lĩnh vực cụ thể. Tuy nhiên, có thể khẳng định đây là công trình khoa học nghiên cứu tương đối toàn diện và có hệ thống về vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, bởi những lí do sau đây.
Thứ nhất, đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận, những đặc điểm đặc thù của vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng;
Thứ hai, luận văn cập nhập và phân tích những quy định pháp luật mới về vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.
Thứ ba, luận văn đánh giá tình hình vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính và đưa ra nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, bất cập trong việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng;
Thứ tư, luận văn tập trung vào đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận về vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng;
Chương II: Thực trạng pháp luật và thực tiễn xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng ở Việt Nam hiện nay;
Chương III. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.
Định dạng | Link tải |