[Luận văn 2020] Pháp luật về hoạt động nhượng quyền thương mại quốc tế – Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam – ThS. Nguyễn Thế Hiển
Định dạng | Link tải |

Định dạng | Link tải |
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
NQTM là một mô hình kinh doanh có tốc độ phát triển nhanh và rộng khắp trên thế giới. Kể từ khi xuất hiện vào thế kỉ XIX cho tới nay, NQTM đã được đông đảo các nhà kinh doanh lựa chọn để thâm nhập vào thị trường của các quốc gia khác. NQTM được yêu thích và lựa chọn sử dụng như vậy là bởi nó sở hữu nhiều tụ điểm như hạn chế chi phí đầu tư, hạn chế rủi ro cho nhà đầu tư mở rộng mạng lưới kinh doanh nhanh chóng và tạo tên tuổi trên thị trường quốc tế.
Ngày 11/01/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và đây cũng là thời điểm đánh dấu bước phát triển mới về NQTM ở nước ta. Từ năm 2007 tới nay, hoạt động NQTM ở Việt Nam mặc dù đang ở giai đoạn “ươm mầm” nhưng vẫn diễn ra vô cùng nhộn nhịp. Thông qua hoạt động này, một loạt các nhãn hiệu quốc tế đã có mặt ở Việt Nam. Có thể kể tới gà rán KFC, Lotteria, cửa hàng tiện lợi 7-Eleven hay đồ nội thất JYSK. Không chỉ vậy, các thương hiệu trong nước như Phở 24, cà phê Trung Nguyên xuất hiện với tần suất dày đặc và có mặt ở mọi tỉnh thành cũng như trên thế giới là nhờ công lớn của NQTM.
Chính những cam kết mở cửa thị trường và việc hoàn thiện pháp luật trong nước cho phù hợp với pháp luật quốc tế, mà cụ thể là pháp luật WTO, cùng với tốc độ phát triển nhanh của nền kinh tế đã tạo điều kiện cho hoạt động NQTM ở Việt Nam phát triển. Tuy nhiên, cho tới nay, hoạt động NQTM ở nước ta vẫn chưa thực sự đạt hiệu quả cao, đặc biệt là hoạt động NQTM quốc tế. Thực tiễn cho thấy kể từ năm 2007 tới nay, Bộ Công thương mới ghi nhận 235 trường hợp cấp phép NQTM cho doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam và 4 trường hợp cấp phép NQTM từ Việt Nam ra nước ngoài. Mặc dù đây là số liệu không đầy đủ do hiện nay Việt Nam không còn quy định việc đăng ký NQTM quốc tế nhưng đây vẫn quả thực là những con số vô cùng khiêm tốn so với một thị trường tiềm năng như nước ta. Nguyên nhân dẫn tới tình trạng này xuất phát từ chính các doanh nghiệp nhượng quyền và doanh nghiệp được nhượng quyền như thiếu sự tìm hiểu kĩ lưỡng thiếu vốn, thiếu trình độ quản lý và kiểm soát. Nhưng không thể nào không kể tới thiếu sót về mặt lập pháp Vấn đề NQTM quốc tế hay NQTM có yếu tố nước ngoài vẫn còn bị bỏ ngõ và chưa được quy định hoặc có quy định nhưng thiếu chi tiết. Tất cả những điều trên đã tạo ra những khó khăn không hề nhỏ khi các doanh nghiệp nước ngoài muốn tiến hành hoạt động NQTM ở nước ta.
Chính vì vậy học viên đã lựa chọn đề tài Pháp luật về hoạt động nhượng quyền thương mại quốc tế: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam để nghiên của phân tích và đánh giá để từ đó đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng pháp luật Việt Nam về NQTM quốc tế.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
NQTM không phải là một đề tài mới và vì vậy có nhiều sách, tạp chí cũng như luận vẫn và bài viết về vấn đề này. Thứ nhất, ở cấp độ quốc tế đã có khá nhiều sách về NQTM, có thể kể tới:
– Center for International Legal Studies (2014), International Franchising, Juris Pub Cuốn sách trình bày các nghiên cứu chung về môi trường pháp lý nhằm thực hiện NQTM ở 34 quốc gia, bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau như luật quảng cáo, cạnh tranh HĐ, sở hữu trí tuệ,… Đây là tài liệu hữu ích với các doanh nghiệp, cá nhân muốn NQTM vào các quốc gia này.
– Nguyen Ba Binh (2014), Franchising Law and Practice in Vietnam, Scholars’ Press Tác giả nghiên cứu các khía cạnh chính trị, văn hóa-xã hội, kinh tế, pháp luật của Việt Nam trong sự tác động tới hoạt động NQTM, làm rõ sự phát triển của NQTM, nhất là kinh nghiệm của các nhà NQTM hàng đầu của Việt Nam. Cuốn sách cung cấp “nhịp cầu” nối giữa kinh nghiệm quốc tế tốt nhất về nhượng quyền thương mại với thực tiễn NQTM của Việt Nam.
– Mark Abell (2020), Franchise Law Review – 7th Edition, 2020 Law Business Research Ltd. Đây là một cuốn sách tập hợp các chương và bài viết của nhiều tác giả khác nhau, đề cập tới mọi khía cạnh của NQTM theo lý luận và thực tiễn mới nhất của nhiều quốc gia trên thế giới.
– Mark Abell (2013), The Law and Regulation of Franchising in the EU Legal Intellectual Property Law And Practice: Đây là cuốn sách nghiên cứu toàn diện đầu tiên về pháp luật nhượng quyền tại EU. Không chỉ nêu lên các quy định pháp luật mà cuốn sách còn đánh giá mối quan hệ giữa pháp luật các quốc gia thành viên khi thực hiện nhượng quyền tại EU.
– Peter Snell (2004), Larry Weinberg Fundamentals of Franchising – Canada, Forum on Franchising American Bar Association Cuốn sách do các tác giả là luật sư trực tiếp tham gia viết và biên soạn nên không chỉ nêu lên pháp luật Canada về nhượng quyền mà còn đánh giá được thực tiễn áp dụng các quy định ấy.
Thứ hai, ở cấp độ trong nước, NQTM cũng là chủ đề chính trong nhiều sách, bài viết và luận vẫn như:
– Nguyễn Bá Bình, Andrew Terry (2013), Ảnh hưởng của pháp luật nhượng quyền thương mại đối với sự phát triển của nhượng quyền thương mại ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 21. Bài viết trình bày khái quát hoạt động NQTM ở Việt Nam, pháp luật nhượng quyền và đặc biệt, bài viết tập trung phân tích sự phát triển của một số hệ thống nhượng quyền nổi tiếng ở Việt Nam và nước ngoài hiện đang có mặt ở Việt Nam để đưa ra các đánh giá và nhận định của pháp luật về NQTM đối với hoạt động này.
– Nguyễn Bá Bình (2020), Bản giới thiệu nhượng quyền thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 2. Bài viết tập trung vào một vấn đề nhỏ trong vô số các vấn đề khác nhau của NQTM là bản giới thiệu NQTM. Trong bài viết, tác giả trình bày các nội dung cấu thành quy định về bản giới thiệu NQTM theo pháp luật Việt Nam như chủ thể có nghĩa vụ cung cấp, thông tin bắt buộc, hậu quả pháp lý cũng như so sánh các quy định này với pháp luật một số quốc gia trên thế giới.
– Vũ Đặng Hải Yến (2003), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội. Luận án được viết trong thời là NQTM còn khá mới mẻ ở Việt Nam nên có ý nghĩa thực tiễn to lớn Luận án đã nghiên cứu các quan điểm, tư tưởng luật học về NQTM và các quy định của pháp luật Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này. Từ đây, luận án rút ra được nhiều kinh nghiệm thực tiễn góp phần hoàn thiện pháp luật trong nước về NQTM.
– Đinh Thị Thu Hà (2010), Pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khóa học tốt nghiệp, Đại học Luật Hà Nội. Vì chỉ là khóa học tốt nghiệp nên bài viết mới dùng lại ở mức độ khái quát mà chưa thực sự đưa ra các nhận định đánh giá chuyên sâu. Tuy nhiên khóa học cũng đưa ra được nhiều kiến thức nền tảng về NQTM cũng như pháp luật NQTM có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam.
Tuy nhiên, có thể thấy rằng các tài liệu hiện có đều chỉ tập trung khai thác vấn đề NQTM nói chung trong đó bao gồm cả NQTM quốc tế. Hầu như không có tài liệu nào, cả ở tiếng Anh lẫn tiếng Việt phân tích chi tiết về NQTM quốc tế. Chỉ có duy nhất một khóa luận tốt nghiệp của Đinh Thị Thu Hà là có nội dung khá tương đồng. Tuy nhiên, tài liệu này được viết từ năm 2010 và chỉ là một khoa khóa học tốt nghiệp nên phạm vi nghiên cứu còn hạn chế và chưa cập nhật. Ngoài ra, các tài liệu trên cũng không hướng tới việc so sánh với các quốc gia khác để học hỏi kinh nghiệm.
Do đó, dù đã có những nghiên cứu liên quan đến đề tài này, nhưng nhu cầu tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật về chủ đề này vẫn còn. Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài đã nêu và dựa trên các công trình nghiên cứu này để thực hiện luận văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là rút ra các bài học kinh nghiệm của pháp luật một số quốc gia trên thế giới về hoạt động NQTM quốc tế để từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam.
Để đạt được mục đích đã đặt ra, luận văn sẽ giải quyết các nhiệm vụ nhỏ và cụ thể hơn dưới đây:
– Tìm hiểu những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến NQTM quốc tế và pháp luật điều chỉnh hoạt động NQTM quốc tế;
– Căn cứ trên những vấn đề lý luận vừa tìm hiểu, tiến hành nghiên cứu và trình bày một cách có hệ thống các quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về NQTM quốc tế;
– Phân tích đánh giá các quy định điều chỉnh NQTM quốc tế ở Việt Nam;
– Đưa ra một kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý về NQTM quốc tế ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là pháp luật một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam điều chỉnh hoạt động NQTM quốc tế.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn bao gồm:
– Phạm vi về nội dung Luận văn tập trung nghiên cứu pháp luật điều chỉnh hoạt động NQTM quốc tế.
– Phạm vi về không gian Luận văn sẽ nghiên cứu phân tích pháp luật về NQTM quốc tế tại ba quốc gia là Hoa Kỳ, Philippines và Việt Nam. Luận văn lựa chọn Hoa Kỳ bởi đây là thị trường xuất khẩu chính của nước ta và là thị trường mà mọi quốc gia đều muốn khai thác. Đây cũng là cái nôi của NQTM và vì vậy, pháp luật của nó đã hoàn thiện đến một mức cao. Về phần Philippines, đây là quốc gia ở Đông Nam Á có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam nhưng có thị trường nhượng quyền quốc tế sôi động hơn hẳn. Nó trở thành điểm đến lý tưởng cho các nhà nhượng quyền nước ngoài. Vì vậy, nghiên cứu pháp luật các quốc gia này không chỉ góp phần xây dựng pháp luật Việt Nam mà còn là hành trang cho các doanh nghiệp Việt Nam khi muốn nhượng quyền ra nước ngoài.
– Phạm vi về thời gian Các quy định pháp luật mà Luận văn nghiên cứu sẽ là những quy định pháp luật mới nhất và đang được áp dụng tại các quốc gia này. Tại Việt Nam, tác giả sẽ tập trung phân tích từ thời điểm năm 2005 là thời điểm ra đời Luật Thương mại Việt Nam 2005, trong đó lần đầu tiên ghi nhận nhượng quyền thương mại như một hoạt động thương mại độc lập theo đúng bản chất của nó.
5. Phương pháp nghiên cứu
Lấy phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam làm kim chỉ nam, luận văn sẽ được tiến hành dựa trên các phương pháp cụ thể như sau:
– Phương pháp phân tích: Được dùng để làm rõ các nội dung của vấn đề nghiên cứu và được sử dụng trong tất cả các chương của luận văn.
– Phương pháp tổng hợp: Được dùng để khái quát hoả nội dung nghiên cứu nghiên cứu theo một cách logic. Phương pháp này cực là quan trọng trong việc rút ra bài học kinh nghiệm từ các quốc gia khác và trong việc rút ra những hạn chế của pháp luật Việt Nam. Phương pháp này được thể hiện rõ trong các kết luận của từng chương và kết luận chung.
– Phương pháp so sánh luật học: Đây là phương pháp được sử dụng chính trong luận văn được sử dụng để nghiên cứu xem xét pháp luật các quốc gia với nhau.
Ngoài ba phương pháp quan trọng nêu trên luận văn cũng kết hợp phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử,…
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học của luận văn thể hiện ở chỗ luận văn đã góp phần làm sáng tỏ hơn các nội dung về NQTM quốc tế cả về lý luận chung lẫn ở hệ thống pháp luật một số quốc gia.
Ý nghĩa thực tiễn của luận văn là đã rút ra được những bài học kinh nghiệm phù hợp và có thể áp dụng được tại Việt Nam cho các thương nhân tham gia NQTM cũng như cho các nhà hoạch định chính sách xây dựng pháp luật liên quan tới NQTM quốc tế ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thi luận văn được trình bày thành 3 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động nhượng quyền thương mại quốc tế và pháp luật về hoạt động nhượng quyền thương mại quốc tế.
Chương 2: Kinh nghiệm của Hoa Kỳ và Philippines trong điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại quốc tế.
Chương 3: Khung pháp luật Việt Nam về hoạt động nhượng quyền thương mại quốc tế và một số đề xuất.
Định dạng | Link tải |