[Luận văn 2022] Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp ở Việt Nam
Định dạng | Link tải |

Mục lục
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Lý do chọn đề tài | 1 |
| 2. Tình hình nghiên cứu đề tài | 2 |
| 3. Mục đích nghiên cứu của đề tài | 5 |
| 4. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài | 6 |
| 5. Phương pháp nghiên cứu | 6 |
| 6. Dự kiến kết quả nghiên cứu | 7 |
| 7. Bố cục đề tài | 7 |
| CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA QUỐC HỘI VÀ CHÍNH PHỦ TRONG QUY TRÌNH LẬP PHÁP | 9 |
| 1.1. Khái niệm, đặc điểm, mục đích và yêu cầu sự tham gia của Chính phủ vào quy trình lập pháp | 9 |
| 1.1.1. Khái niệm quyền lập pháp | 9 |
| 1.1.2. Khái niệm quy trình lập pháp | 11 |
| 1.1.3. Đặc điểm của quy trình lập pháp | 13 |
| 1.1.4. Mục đích và yêu cầu của quy trình lập pháp | 14 |
| 1.2. Nội dung mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ qua các giai đoạn trong quy trình lập pháp | 16 |
| 1.2.1. Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn lập và thông qua chương trình xây dựng luật | 17 |
| 1.2.2. Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn soạn thảo dự án luật | 19 |
| 1.2.3. Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn lấy ý kiến nhân dân, đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội về dự án luật | 23 |
| 1.2.4. Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn thẩm định dự án luật | 24 |
| 1.2.5. Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn thẩm tra dự án luật | 25 |
| 1.2.6. Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn UBTVQH xem xét, cho ý kiến về dự án luật | 27 |
| 1.2.7. Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn thảo luận, tiếp thu, chỉnh lý, thông qua dự án luật | 28 |
| 1.2.8. Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn công bố luật | 31 |
| KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 | 33 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA QUỐC HỘI VÀ CHÍNH PHỦ TRONG QUY TRÌNH LẬP PHÁP Ở VIỆT NAM VÀ HƯỚNG ĐỔI MỚI | 35 |
| 2.1. Thực trạng mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp ở nước ta hiện nay | 35 |
| 2.1.1. Thực trạng mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn lập và thông qua chương trình xây dựng luật | 35 |
| 2.1.2. Thực trạng mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn soạn thảo dự án luật | 38 |
| 2.1.3. Thực trạng mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn lấy ý kiến nhân dân, đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội về dự án luật | 43 |
| 2.1.4. Thực trạng mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn thẩm định dự án luật | 45 |
| 2.1.5. Thực trạng mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn thẩm tra dự án luật | 46 |
| 2.1.6. Thực trạng mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn UBTVQH xem xét, cho ý kiến về dự án luật | 47 |
| 2.1.7. Thực trạng mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn thảo luận, tiếp thu, chỉnh lý, thông qua dự án luật | 48 |
| 2.1.8. Thực trạng mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn công bố luật | 50 |
| 2.2. Nguyên nhân của thực trạng mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp ở nước ta hiện nay | 51 |
| 2.2.1. Sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp là chưa thật sự rõ ràng và hợp lý | 51 |
| 2.2.2. Chương trình xây dựng luật của Quốc hội khá cứng nhắc nên đã hạn chế tính chủ động, linh hoạt của Chính phủ trong quy trình làm luật nói chung và trong giai đoạn sáng kiến pháp luật nói riêng | 53 |
| 2.2.3. Hoạt động phân tích chính sách, quyết định chính sách, lựa chọn giải pháp lập pháp và đánh giá tác động chính sách là không hiệu quả, chưa đạt yêu cầu | 55 |
| 2.2.4. Cách tổ chức và hoạt động của các cơ quan tham gia vào quy trình lập pháp thiếu tính chuyên nghiệp | 56 |
| 2.3. Phương hướng đổi mới mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp ở nước ta hiện nay | 57 |
| 2.4. Giải pháp cụ thể đổi mới mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp ở nước ta hiện nay | 60 |
| 2.4.1. Giải pháp cụ thể đổi mới mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn lập và thông qua chương trình xây dựng luật | 60 |
| 2.4.2. Giải pháp cụ thể đổi mới mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn soạn thảo dự án luật | 61 |
| 2.4.3. Giải pháp cụ thể đổi mới mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn lấy ý kiến nhân dân, đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội về dự án luật | 63 |
| 2.4.4. Giải pháp cụ thể đổi mới mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn thẩm định dự án luật | 63 |
| 2.4.5. Giải pháp cụ thể đổi mới mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn thẩm tra dự án luật | 64 |
| 2.4.6. Giải pháp cụ thể đổi mới mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn UBTVQH xem xét, cho ý kiến về dự án luật | 65 |
| 2.4.7. Giải pháp cụ thể đổi mới mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn thảo luận, tiếp thu, chỉnh lý, thông qua dự án luật | 66 |
| 2.4.8. Giải pháp cụ thể đổi mới mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn công bố luật | 66 |
| KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 | 67 |
| KẾT LUẬN CHUNG | 68 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 72 |
Định dạng | Link tải |
Tình hình nghiên cứu đề tài
Tính đến thời điểm hiện nay, vẫn chưa có một luận văn thạc sĩ nào nghiên cứu, đánh giá một cách có hệ thống và toàn diện về mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp ở Việt Nam. Vấn đề này chỉ có một số nghiên cứu liên quan sau:
Một là, về Sách chuyên khảo, tham khảo:
(1) Thống nhất phân công và phối hợp quyền lực nhà nước ở Việt Nam (Lê Quốc Hùng, Nxb. Tư pháp, 2004). Quyển sách này phân tích các vấn đề: cơ sở lý luận, pháp lý, thực tiễn tổ chức nhà nước và hoàn thiện cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước theo nguyên tắc thống nhất, phân công và phối hợp trong tổ chức quyền lực nhà nước ở Việt Nam. Như vậy, tác phẩm này chỉ phân tích tổng quát về các cơ quan thực hiện ba loại quyền lực nhà nước trong đó có sơ lược về mối quan hệ giữa ba loại quyền mà chưa tập trung phân tích sâu mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp ở nước ta.
(2) Kiểm soát quyền lực nhà nước – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay (Tác giả: Trịnh Thị Xuyến, Nxb. Chính trị quốc gia, 2008). Trong quyển sách này, tác giả nêu lên tính tất yếu của kiểm soát quyền lực nhà nước; khái niệm, nội dung, mục đích và các phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước. Từ đó, tác giả đề cập đến thực tiễn kiểm soát quyền lực nhà nước ở các nước có hệ thống hai đảng nổi trội, một đảng nổi trội và kinh nghiệm rút ra từ các mô hình trên. Thông qua đó, tác giả nói đến thực trạng kiểm soát quyền lực ở Việt Nam hiện nay là sự hạn chế phạm vi quyền lực nhà nước; kiểm soát quyền lực nhà nước của Nhân dân, Đảng, Bộ máy nhà nước và những vấn đề đặt ra trong kiểm soát quyền lực nhà nước. Đặc biệt, tác giả cũng nêu lên một số giải pháp cơ bản để kiểm soát quyền lực nhà nước là hạn chế phạm vi quyền lực nhà nước; thay đổi cách thức kiểm soát của Đảng; xây dựng các cơ chế kiểm soát của Nhân dân và Bộ máy nhà nước; phát triển các tổ chức chính trị – xã hội theo hướng độc lập, tự chủ; nâng cao trình độ văn hóa chính trị, dân chủ, pháp lý của Nhân dân. Tuy nhiên, quyển sách chỉ tập trung vào vấn đề kiểm soát quyền lực của các nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp mà không đề cập đến mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp ở nước ta.
(3) Quốc hội Việt Nam – Tổ chức, hoạt động và đổi mới (Tác giả: Phan Trung Lý, Nxb. Chính trị quốc gia, 2010). Tác giả khẳng định Quốc hội Việt Nam lúc đầu là Quốc hội lập hiến, trải qua quá trình phát triển, sau đó Quốc hội Việt Nam từ Quốc hội lập hiến chuyển thành Quốc hội lập hiến và Quốc hội lập pháp. Tiếp theo, tác giả phân tích địa vị pháp lý của Quốc hội trong cơ chế quyền lực nhà nước và các giải pháp hoàn thiện pháp luật để đảm bảo địa vị là cơ quan lập hiến và cơ quan lập pháp của Quốc hội, đặc biệt là mối quan hệ giữa Đảng với Quốc hội. Đặc biệt, tác giả đề cập đến hoạt động lập pháp và giám sát của Quốc hội trong cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta và hoàn thiện các quy định của pháp luật về hoạt động lập pháp và giám sát của Quốc hội.
(4) Một số vấn đề về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Tác giả: Trần Ngọc Đường (Chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia, 2011). Trong tác phẩm này, tác giả đã khái quát các quan niệm về quyền lực trong lịch sử; vị trí, vai trò và mối quan hệ giữa quyền lực nhân dân, quyền lực của đảng chính trị và quyền lực nhà nước; sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa quyền lực nhân dân, quyền lực của đảng phái chính trị và quyền lực nhà nước trong lịch sử. Đánh giá của tác giả về sự phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực nhà nước trong các nhà nước chủ nô, phong kiến và tư sản. Thông qua đó, tác giả nêu lên tính tất yếu, khách quan, bản chất và đặc điểm của phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đặc biệt là cơ chế, thực trạng và những bài học rút ra trong việc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước giữa Nhân dân và Nhà nước; giữa Đảng và Nhà nước; giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương với nhau; giữa cơ quan nhà nước ở trung ương với địa phương trong các Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992.
Ngoài ra, tác giả cũng đề cập đến các phương hướng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện việc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quyển sách này đã đề cập một cách toàn diện vấn đề tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam.
(5) Thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ theo Hiến pháp năm 2013 (Tác giả: Viện Khoa học pháp lý của Bộ Tư pháp, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, 2017). Quyển sách này trình bày một số nội dung cơ bản như: Quyền hành pháp và thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền; Quyền hành pháp và thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ theo Hiến pháp 2013; Một số đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao vị trí, vai trò của Chính phủ trong việc thực hiện quyền hành pháp. Những nội dung này là nguồn tham khảo để viết về chức năng, vai trò của Chính phủ trong mối tương quan với Quốc hội và đề xuất những giải pháp để có một Chính phủ độc lập, quyết đoán, trách nhiệm khi thực hiện quyền hành pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Hai là, về luận văn thạc sĩ, tiến sĩ:
Mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng, Luận án tiến sĩ luật học, 2018). Luận án này trình bày nội dung về mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong đó, phân tích rõ về thực trạng mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp ở nước ta trong lịch sử và hiện tại như thế nào; Nhà nước pháp quyền và Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đặt ra những yêu cầu gì đối với mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp và phương hướng đổi mới mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp để đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, luận án chỉ đề cập sơ lược đến mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp trong quy trình lập pháp ở nước ta chứ chưa phân tích sâu, cụ thể và chưa đưa ra được những phương hướng, giải pháp đổi mới về mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp ở nước ta.
Nhìn chung, các nghiên cứu trên đã nghiên cứu một hoặc một vài khía cạnh nào đó của mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp, đánh giá thực trạng của vấn đề nghiên cứu và đề xuất các giải pháp hoàn thiện. Cũng có một vài các bài viết, tài liệu có liên quan được trình bày trong các tạp chí khoa học pháp lý, các tạp chí chuyên ngành… nhưng vẫn chưa có một luận văn thạc sĩ nào nghiên cứu, đánh giá một cách có hệ thống và toàn diện về mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp ở Việt Nam.
Tải về tại đây để xem đầy đủ tài liệu
Định dạng | Link tải |