[Luận văn 2021] Bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam và thực tiễn thực hiện – ThS. Phan Thuỳ Linh
Định dạng | Link tải |

Định dạng | Link tải |
1. Lý do lựa chọn đề tài
Ngày nay, sở hữu trí tuệ (SHTT) có vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia và đang trở thành mối quan tâm chung của toàn thế giới. SHTT góp phần thúc đẩy hoạt động sáng tạo, đổi mới công nghệ, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, từ đó thúc đẩy hoạt động đầu tư và chuyển giao công nghệ, bảo vệ lợi ích quốc gia đồng thời hỗ trợ tích cực, có hiệu quả cho các hoạt động nghiên cứu – triển khai, sản xuất và kinh doanh. Trong công cuộc hội nhập quốc tế, SHTT đã và đang trở thành một trong số các vấn đề quan trọng hàng đầu, là một nội dung thường trực trong các hiệp định đầu tư và thương mại quốc tế, trong đó có các hiệp định mà Việt Nam đã, đang và sẽ tham gia đàm phán và ký kết.
Luật SHTT được ban hành vào năm 2005 và được sửa đổi, bổ sung năm 2009 trở thành dấu mốc quan trọng trong lịch sử xây dựng, phát triển và hoàn thiện pháp luật về SHTT của Việt Nam. Đạo luật này đã thay đổi toàn bộ cấu trúc hệ thống các văn bản pháp luật về SHTT trước đây, chuyển từ hệ thống các văn bản pháp luật đơn lẻ thành một đạo luật chuyên ngành thống nhất, làm nền tăng pháp lý cơ bản để điều chỉnh các vấn đề có liên quan việc bảo hộ và thực thi quyền SHTT. Qua thực tiễn hơn 15 năm thi hành, Luật SHTT đã đóng góp vai trò quan trọng trong việc tạo nên hành lang pháp lý cho các hoạt động sáng tạo, xác lập, khai thác và bảo vệ quyền SHTT của các tổ chức, cá nhân, cũng như tạo môi trường kinh doanh lành mạnh cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, góp phần khuyến khích các hoạt động sáng tạo, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, Việt Nam đang đứng trước bối cảnh mới với nhiều chuyển biến mạnh mẽ tác động đến mọi mặt của kinh tế – xã hội như quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thông qua việc gia nhập các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, xu hướng bảo hộ thương mại đang gia tăng cũng như xây dựng mục tiêu hướng tới một Chính phủ kiến tạo, công việc sửa đổi Luật SHTT trong giai đoạn hiện nay đang trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Trong đó đặt ra những yêu cầu về hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về SHTT đối với nhãn hiệu tại Việt Nam. Ý thức vai trò bảo hộ nhãn hiệu và yêu cầu cấp thiết phải khắc phục, sửa đổi những vấn đề bất cập trong quy định của pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam hiện nay, học viên chọn đề tài “Bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam và thực tiễn thực hiện” để nghiên cứu và làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Tình hình nghiên cứu về đề tài bảo hộ nhãn hiệu đã được quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong nước. Đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nhãn hiệu đã được công bố với nội dung nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau để đánh giá về tính hợp lý, hiệu quả của hệ thống pháp luật bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam và xu thế hội nhập quốc tế. Có thể kể đến những công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
- Lê Mai Thanh (2006), Những vấn đề pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Viện Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội.
Luận án được tác giả nghiên cứu, luận giải nhiều vấn đề pháp lý liên quan tới việc bảo hộ nhãn hiệu. Các đóng góp trong luận án vào hệ thống cơ sở lý luận chung về nhãn hiệu bao gồm: luận giải về sự cần thiết phải bảo hộ nhãn hiệu; vai trò của nhãn hiệu đối với sự phát triển của kinh tế đất nước; các tiêu chí đánh giá uy tín của nhãn hiệu; luận giải về mối quan hệ giữa bảo hộ nhãn hiệu và nhãn hiệu và luận giải chung về cơ chế thực thi quyền SHCN đối với nhãn hiệu. Với các giải pháp nhằm giải quyết tranh chấp liên quan tới nhãn hiệu, tác giả cho rằng nên áp dụng các nguyên tắc chung của pháp luật bảo hộ nhãn hiệu kết hợp với các văn bản khác như Luật Thương mại, Doanh nghiệp, Đầu tư và cũng cố biện pháp hành chính bởi thói quen này được sử dụng nhiều ở Việt Nam tại thời điểm đó (năm 2006).
- Nguyễn Văn Luận (2007), Bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu hàng hóa ở Việt Nam và quốc tế, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
Trong luận án này, tác giả nêu rõ mọi khía cạnh của bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu hàng hoá trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế và từ việc nghiên cứu pháp luật Việt Nam, chỉ rõ hiệu quả và những nguyên nhân, hạn chế trong lĩnh vực bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam. Cùng với đó, tác giả so sánh, đối chiếu các quy định pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu hàng hoá với quy định về bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá trong một số điều ước quốc tế và pháp luật của một số nước khác trên thế giới, từ đó chỉ rõ “tính đầy đủ” và “tính hiệu quả” của pháp luật Việt Nam và mục tiêu cụ thể cần đạt tới.
- Nguyễn Xuân Quang (2015), Xử lý vi phạm nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội.
Trong luận án này, tác giả tập trung nghiên cứu những vấn đề chung về nhãn hiệu bao gồm khái niệm, chức năng, phân loại, điều kiện bảo hộ, xác lập quyền… Theo đó, tác giả khẳng định vi phạm nhãn hiệu có phạm vi rộng bao gồm các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu và hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước về nhãn hiệu. Thông qua việc phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về xử lý vi phạm nhãn hiệu bằng biện pháp hành chính, dân sự, hình sự, kiểm soát biên giới, tác giả chỉ ra những bất cập, vướng mắc trong pháp luật, rút ra nguyên nhân cơ hạn chế hiệu quả xử lý vi phạm nhãn hiệu ở Việt Nam, đồng thời đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xử lý vi phạm nhãn hiệu.
Bên cạnh đó, cũng có nhiều luận văn thạc sĩ nghiên cứu về đề tài này, có thể kể đến: Nguyễn Thị Thủy, Bảo hộ nhãn hiệu theo pháp luật sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ, bảo vệ năm 2018; Nguyễn Thị Thu, Xung đột giữa nhãn hiệu và tên thương mại trong bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo quy định của Pháp luật Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ, bảo vệ năm 2015; Trần Việt Hung, Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa thông qua biện pháp kiểm soát biên giới của cơ quan Hải quan, Luận văn thạc sĩ, bảo vệ năm 2012…
Có thể nói, các công trình nghiên cứu kể trên đã làm rõ những vấn đề lý luận về nhãn hiệu, góp phần phản ánh thực trạng bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam Ngoài ra còn phải kể đến các công trình nghiên cứu và các bài viết đăng trên các tạp chí tiêu biểu như: Hoàn thiện khung pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam – Một số giải pháp, TS. Phan Ngọc Tâm, LS. Lê Quang Vinh, Trường đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Công ty cổ phần sở hữu trí tuệ Bross và cộng sự (Bross & Partners), đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 03 (2019); Báo cáo tổng hợp đề tài Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và mùi (2017), Trung tâm Nghiên cứu, Đào tạo và Hỗ trợ, Tư vấn – Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ; Khả năng phân biệt nhãn hiệu thông qua quá trình sử dụng – so sánh pháp luật về nhãn hiệu của Việt Nam với pháp luật Liên minh Châu Âu và Hoa Kỳ, Thạc sĩ Đàm Thị Diễm Hạnh, đăng trên Tạp chí Khoa học Kiểm sát số 04 (2016).
Trên cơ sở học tập, kế thừa các kết quả nghiên cứu từ những công trình trên luận văn này tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến quy định pháp luật và các vấn đề thực tiễn về bảo hộ nhãn hiệu.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: là làm rõ về lý luận và thực tiễn pháp luật bảo hộ nhãn hiệu của Việt Nam, trên cơ sở đó chỉ ra những bất cập hạn chế và đưa ra những kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật bảo hộ nhãn hiệu của Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận án đã đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sauL
– Nghiên cứu các quy định pháp luật về nhãn hiệu và bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam;
– Nghiên cứu thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam;
– Nghiên cứu những bất cập trong quy định pháp luật về SHTT đối với nhãn hiệu tại Việt Nam từ đó đưa ra các đề xuất, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật bảo hộ nhãn hiệu trong tương lai.
4. Phạm vi nghiên cứu
Về phạm vi thời gian, luận văn nghiên cứu Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 đến nay, đặc biệt chú trong khoảng thời gian từ sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
Về phạm vi không gian, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam chứ không nghiên cứu toàn bộ vấn đề bảo hộ SHTT.
Địa bàn nghiên cứu của luận văn trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam, tập trung ở một số địa phương tiêu biểu như: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng…
5. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả thực hiện luận văn này dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, đồng thời, trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống như phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp kết hợp giữa lý luận với thực tiễn, phương pháp phân tích, tổng hợp và sử dụng số liệu thống kê, phương pháp so sánh luật.
Tác giả đã sử dụng kết hợp các tài liệu pháp luật cả trong và ngoài nước, các bài nghiên cứu của các nhà khoa học, sách khoa học, các bài báo pháp luật và những số liệu thống kê của các cơ quan chức năng cùng các tài liệu khác thu thập được từ quá trình tham gia các hội nghị, hội thảo về nhãn hiệu.
6. Ý nghĩa thực tiễn và lý luận của Luận văn
Luận văn sẽ đóng góp vào cơ sở lý luận về bảo hộ nhãn hiệu cũng như góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam, nâng cao hiệu quả thực thi quyền SHCN ở Việt Nam. Thông qua việc đánh giá những bất cập, hạn chế từ thực tiễn pháp luật hiện hành, Luận văn có thể đóng góp những giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hiện nay, góp phần tăng cường hiệu quả của công tác bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu. Ngoài ra, Luật văn có thể được sử dụng làm tài liệu học tập và nghiên cứu.
7. Kết cấu của Luận văn
Kết cấu đề tài này gồm phần mở đầu, 03 chương và kết luận, cụ thể:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về nhãn hiệu và bảo hộ nhãn hiệu;
Chương 2: Pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu và thực tiễn hoạt động bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam;
Chương 3: Những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu và nâng cao hiệu quả thực thi các biện pháp bảo hộ nhãn hiệu.
Định dạng | Link tải |