[Tiểu luận 2024] So sánh chế định Quốc hội qua các bản hiến pháp (ST0116)
Định dạng | Link tải |

Mục lục
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| Chương 1: TỔNG QUAN VỀ BÁO CÁO NGHIÊN CỨU | 1 |
| 1.1. Mục đích nghiên cứu | 1 |
| 1.2. Đối tượng | 1 |
| 1.3. Nhiệm vụ nghiên cứu | 1 |
| Chương 2: PHÂN TÍCH VỀ CHẾ ĐỊNH QUỐC HỘI | 2 |
| 2.1. Hiến pháp năm 1946 | 2 |
| 2.1.1. Vị trí pháp lý | 2 |
| 2.1.2. Nhiệm vụ quyền hạn | 2 |
| 2.1.3. Cơ cấu tổ chức | 2 |
| 2.2. Hiến pháp năm 1959 | 3 |
| 2.2.1. Vị trí pháp lý | 3 |
| 2.2.2. Nhiệm vụ quyền hạn | 4 |
| 2.3. Hiến pháp năm 1980 | 6 |
| 2.3.1. Vị trí | 6 |
| 2.3.2. Nhiệm vụ quyền hạn | 7 |
| 2.3.3. Cơ cấu tổ chức | 8 |
| 2.3.4. Sự phát triển | 9 |
| 2.3.5. Nhiệm kỳ | 10 |
| 2.4. Hiến pháp năm 1992 | 11 |
| 2.4.1. Vị trí pháp lý | 11 |
| 2.4.2. Nhiệm vụ và quyền hạn | 12 |
| 2.4.3. Phương thức hoạt động | 14 |
| 2.4.4. Cơ cấu tổ chức | 14 |
| 2.5. Hiến pháp năm 2013 | 15 |
| 2.5.1. Vị trí | 15 |
| 2.5.2. Nhiệm vụ quyền hạn | 15 |
| 2.5.3. Cơ cấu tổ chức | 16 |
| 2.5.4. Sự phát triển | 17 |
| 2.6. Tổng kết, so sánh | 18 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 25 |
Định dạng | Link tải |
Lời mở đầu
2.1. Hiến pháp năm 1946
2.1.1. Vị trí pháp lý
Quốc hội với tên gọi là Nghị viện nhân dân là cơ quan quyền lực cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do công dân Việt Nam bầu ra với nhiệm kỳ 3 (Điều 24) và có nhiệm vụ giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra các pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài (Điều 22, 23)
2.1.2. Nhiệm vụ quyền hạn
Cơ chế phân công quyền lực Nhà nước trong Hiến pháp chịu ảnh hưởng từ học thuyết “tam quyền phân lập” được vận dụng rộng rãi trong các nhà nước theo chế độ tư sản (điển hình là Hiến pháp Hoa Kỳ).
* Quyền lập pháp (Điều 23 – Nghị viện nhân dân có quyền ban hành pháp luật)
Nghị viện dân dân là cơ quan có quyền lực cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (Điều 22). Điều này cho thấy các cơ quan nhà nước khác phải phục tùng Nghị viện. Thuật ngữ “cơ quan có quyền cao nhất” giúp cho công dân dễ hiểu rằng: quyền ở đây là quyền hạn cao nhất. Tuy điều luật không quy định Nghị viện nhân dân là cơ quan lập hiến, lập pháp nhưng bản thân Điều 23 của Hiến pháp đã quy định thẩm quyền của Nghị viện nhân dân là được đặt ra pháp luật (tức là thực hiện hoạt động lập pháp) và Điều 70 về sửa đổi Hiến pháp thì Nghị viện nhân dân chính là cơ quan duy nhất quyết định việc sửa đổi Hiến pháp, đưa Hiến pháp ra toàn dân phúc quyết (tức là thực hiện hoạt động lập hiến). Cơ quan hành pháp phải phục tùng Nghị viện.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức
Trong cơ cấu của Nghị viện, Ban thường trực Nghị viện (bao gồm 1 Nghị trưởng, 12 Ủy viên chính thức, 3 Ủy viên dự khuyết) có nhiệm vụ quyền hạn khá lớn trong thời gian Nghị viện không họp, như quyền biểu quyết những dự án sắc luật của Chính phủ, triệu tập Nghị viện nhân dân, kiểm soát và phê bình Chính phủ (Điều 36).
Tuy nhiên, do điều kiện chiến tranh, Nghị viện đã không được bầu theo quy định của Hiến pháp năm 1946, mà thay vào đó Quốc hội khóa I tiếp tục hoạt động cho đến khi Hiến pháp năm 1959 được ban hành thay thế Hiến pháp năm 1946.
Hiến pháp năm 1946 xác định hình thức hoạt động rất dân chủ của Nghị viện nhân dân được thể hiện qua các quy định:
“Nghị viện họp công khai, công chúng được vào nghe” (Điều 30)
“Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa nhân dân phán quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý, Nghị viện có thể tự giải tán” (Điều 33)
⇨ Những quy định này thể hiện sâu sắc bản chất Nhà nước Việt Nam là nhà nước của toàn dân được thể hiện cụ thể qua hình thức hoạt động của chính Nghị viện nhân dân.
2.2. Hiến pháp năm 1959
2.2.1. Vị trí pháp lý
Hiến pháp năm 1959, chế độ Nghị viện nhân dân đã thay đổi căn bản với việc quy định: “Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà” (Điều 43).
Nghiên cứu tình hình thực tiễn của cách mạng Việt Nam trong bối cảnh ra đời của Hiến pháp năm 1959, cho thấy rằng việc thay thế chế định Nghị viện nhân dân bằng chế định Quốc hội không phải là sự thay đổi tên gọi của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất một cách thuần tuý. Bởi:
+ Sự thay đổi này thể hiện ở chỗ Nghị viện trong Hiến pháp năm 1946 mới chỉ khẳng định một bước chuyển căn bản từ một chế độ thuộc địa thực dân phong kiến sang một chế độ dân chủ cộng hoà mà chưa xác định đó là chế độ dân chủ theo kiểu tư sản, trung lập hay XHCN.
+ Hiến pháp năm 1959 với việc thiết kế một bộ máy nhà nước kiểu mới mà đại diện tập trung là Quốc hội thể hiện sự định hướng phát triển chế độ nhà nước theo chủ nghĩa xã hội.
⇨ Như vậy, cùng với bộ máy nhà nước, chế định Quốc hội thể hiện sứ mệnh lịch sử của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, một nhà nước dân chủ nhân dân thực hiện chuyên chính vô sản. Với sứ mệnh lịch sử của Nhà nước này, Quốc hội theo Hiến pháp năm 1959 đã thay đổi căn bản so với Nghị viện nhân dân trong Hiến pháp năm 1946.
2.2.2. Nhiệm vụ quyền hạn
Quốc hội không chỉ được xác định là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà mà còn được khẳng định là: “Cơ quan duy nhất có quyền lập pháp”. Sự khẳng định này thể hiện một bước chuyển biến quan trọng trong chế độ sắc lệnh sang chế độ đạo luật.
Với Hiến pháp năm 1959, việc quy định “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp” là căn cứ Hiến định quan trọng để thiết lập chế độ điều hành đất nước bằng các đạo luật. Cụ thể:
– Trên phương diện thẩm quyền, chức năng của Quốc hội, Hiến pháp năm 1959 đã quy định cụ thể hơn so với quy định của Hiến pháp năm 1946. Theo Điều 50 của Hiến pháp năm 1959, Quốc hội được xác định là có 17 quyền hạn trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống nhà nước, từ việc lập hiến, lập pháp; tổ chức bộ máy nhà nước; quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước đến giám sát việc thi hành Hiến pháp.
– Trên phương diện tổ chức, Quốc hội theo Hiến pháp năm 1959 đã được cải cách một bước. Hiến pháp năm 1959 không thiết lập các chức vụ Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội theo kiểu Nghị trưởng, Phó Nghị trưởng như Hiến pháp năm 1946. Cơ quan Thường trực của Quốc hội được xác định là Uỷ ban thường vụ Quốc hội với thành phần gồm: Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Tổng thư ký và các Uỷ viên (Điều 51, Hiến pháp năm 1959). Uỷ ban thường vụ Quốc hội so với Ban Thường trực của Nghị viện nhân dân ở Hiến pháp năm 1946 đã có quyền hạn rộng rãi hơn. Theo Điều 53, Hiến pháp năm 1959, Uỷ ban thường vụ Quốc hội được quy định có 18 quyền hạn:
1- Tuyên bố và chủ trì việc tuyển cử đại biểu Quốc hội. 2- Triệu tập Quốc hội.
3- Giải thích pháp luật.
4- Ra pháp luật.
5- Quyết định việc trưng cầu ý kiến nhân dân.
6- Giám sát công tác của Hội đồng Chính phủ, của Toà án nhân dân tối cao và của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
7- Sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị định, nghị quyết, chỉ thị của Hội đồng Chính phủ trái với Hiến pháp, pháp luật, pháp lệnh; sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết không thích đáng của Hội đồng nhân dân tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương, và giải tán các Hội đồng nhân dân nói trên trong trường hợp các Hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại đến quyền lợi của nhân dân một cách nghiêm trọng.
8- Trong thời gian Quốc hội không họp, quyết định việc bổ nhiệm hoặc bãi miễn Phó Thủ tướng và những thành viên khác của Hội đồng Chính phủ.
9- Bổ nhiệm hoặc bãi miễn Phó Chánh án, thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
10- Bổ nhiệm hoặc bãi miễn Phó Viện trưởng, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
11- Quyết định việc bổ nhiệm hoặc bãi miễn các đại diện toàn quyền ngoại giao của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ở nước ngoài.
12- Quyết định việc phê chuẩn hoặc bãi bỏ những hiệp ước ký với nước ngoài, trừ trường hợp mà Uỷ ban thường vụ Quốc hội xét cần phải trình Quốc hội quyết định.
13- Quy định hàm và cấp quân sự, ngoại giao và những hàm và cấp khác.
14- Quyết định đặc xá.
15- Quy định và quyết định việc tặng thưởng huân chương và danh hiệu vinh dự của Nhà nước.
16- Trong thời gian Quốc hội không họp, quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh trong trường hợp nước nhà bị xâm lược.
17- Quyết định việc tổng động viên hoặc động viên cục bộ.
18- Quyết định việc giới nghiêm trong toàn quốc hoặc từng địa phương.
Đương nhiên, quyền hạn của Uỷ ban thường vụ Quốc hội đều xuất phát từ thẩm quyền của Quốc hội, nhưng với tính cách là cơ quan hoạt động thường xuyên trong khuôn khổ của một Quốc hội không chuyên nghiệp, không thường xuyên, các quyền hạn của Uỷ ban thường vụ Quốc hội được Hiến pháp quy định bảo đảm cho Quốc hội thực hiện được các quyền hạn và trách nhiệm của mình theo sự uỷ quyền của nhân dân. Điều đáng chú ý trong thẩm quyền của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội là quyền ra pháp lệnh. Quyền ra pháp lệnh với tính cách là một văn bản quy phạm pháp luật đặc thù, cần thiết trong việc thay thế chế độ sắc lệnh bằng chế độ đạo luật trong điều kiện của một Quốc hội không chuyên và hoạt động không thường xuyên, trong khuôn khổ một hệ thống pháp luật còn thiếu rất nhiều đạo luật, kể cả các bộ luật quan trọng của quốc gia.
– Ngoài Uỷ ban thường vụ Quốc hội với tính cách là cơ quan thường trực Quốc hội, trong tổ chức bộ máy của Quốc hội còn có các Uỷ ban. Theo Điều 57, Hiến pháp năm 1959, “Quốc hội thành lập Uỷ ban dự án pháp luật, Uỷ ban kế hoạch ngân sách, và những Uỷ ban khác mà Quốc hội xét thấy cần thiết để giúp Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội”.
– Khác với Hiến pháp năm 1946, nhiệm kỳ của Quốc hội theo Hiến pháp năm 1959 kéo dài hơn với thời gian bốn năm.
Tải về để xem đầy đủ tài liệu
Định dạng | Link tải |