[Luận văn 2021] Pháp luật về thủ tục đầu tư và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Tuyên Quang – ThS. Nguyễn Thảo Ly
Định dạng | Link tải |

Định dạng | Link tải |
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam (11/1936) với đường lối đổi mới toàn diện với trọng tâm là kinh tế đã tạo ra cho nền kinh tế đất nước ta bước chuyển mình từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường với sự đa dạng về các thành phần kinh tế cùng các hoạt động kinh doanh, góp phần mạnh mẽ vào việc giải phóng thị trường tăng quyền tự chủ kinh doanh. Sau hơn 30 năm đổi mới, cho đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã có bước dài trên con đường hội nhập và phát triển trên mọi lĩnh vực.
Những thành tựu đó đạt được không thể không kể đến vai trò của hoạt động đầu tư Đảng và Nhà nước ta luôn có những chính sách, chủ trương nhằm thu hút các chủ thể tham gia vào hoạt động đầu tư trong và ngoài nước, và không ngừng thay đổi để hoàn thiện những chủ trương, chính sách này sao cho phù hợp với tình hình đất nước qua từng thời kì. Mọi chủ thể tham gia vào bất kì hình thức đầu tư nào đều phải tuân thủ những thủ tục pháp luật chặt chẽ. Thủ tục đầu tư (TTĐT) là một bộ phận quan trọng không thể tách rời của hệ thống các quy phạm pháp luật về đầu tư. Quy định về TTĐT xác định các bước đi, trình tự cho chủ thể đầu tư, đồng thời thể hiện ý chí của Nhà nước trong việc thống nhất quản lý, giám sát hoạt động đầu tư kinh doanh. Tuy nhiên, từ quy định của pháp luật đến thực tiễn áp dụng trên thực tế vẫn còn nhiều những mâu thuẫn, chưa có sự thống nhất gây khó khăn trong quá trình thực hiện của các nhà đầu tư và cho hoạt động quản lý của Nhà nước. Chính vì vậy, cần có sự nghiên cứu sâu sắc, lý giải cả về lý luận và thực tiễn áp dụng.
Giai đoạn năm 2018 – 2020, tỉnh Tuyên Quang xếp thứ 31 (năm 2020) trong 63 tỉnh về chỉ số PCI (chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh), thành phố của cả nước, tăng 5 bậc so với năm 2017. Đây là nỗ lực quan trọng của tỉnh trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, xúc tiến đầu tư nhằm thu hút các nguồn lực đầu tư vào tỉnh, góp phần xây dụng kết cấu hạ tầng tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động nâng cao đời sống nhân dân. Với xu thế phát triển đó, Lãnh đạo tỉnh Tuyên Quang chỉ đạo chú trọng đến cải thiện môi trường đầu tư, thông qua việc thực hiện tốt các quy định về TTĐT.
Vấn đề đặt ra không chỉ với tỉnh Tuyên Quang mà còn đối với các địa phương trên địa bàn cả nước trong những năm tiếp theo, là tiếp tục nghiên cứu, tham gia hoàn thiện các chính sách pháp luật có liên quan trực tiếp đến TTĐT, chủ động phối hợp, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về thủ tục đầu tư, để giảm thiểu những tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư tại tỉnh.
Do vậy, việc nghiên cứu đề tài “Pháp luật về TTĐT và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Tuyên Quang” thực sự có ý nghĩa và cần thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Các quy định pháp luật về TTĐT đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà quản lý. Đến nay, đã có một số công trình khoa học đề cập đến TTĐT, đưa ra phương hướng giải pháp hoàn thiện, nâng cao chất lượng quản lý trong lĩnh vực này. Cụ thể như sau:
– Tạ Ngọc Ánh (2019), Thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam – Thực tiễn áp dụng tại thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội. Trình bày một số vấn đề chung của pháp luật về thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng kí đầu tư đối với dự án đầu tư nước ngoài. Phân tích thực trạng pháp luật về thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng kí đầu tư đối với dự án đầu tư nước ngoài và thực tiễn thực hiện tại thành phố Hà Nội. Đưa ra yêu cầu giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về vấn đề này.
– Nguyễn Lê Trúc Anh (2019), Thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài theo Luật Đầu tư năm 2014 – Thực tiễn thi hành, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội. Trình bày những vấn đề lí luận và pháp luật về TTĐT từ Việt Nam ra nước ngoài. Phân tích thực tiễn thực hiện pháp luật về thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng kí đầu tư ra nước ngoài tại Việt Nam, từ đó đưa ra yêu cầu, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật đối với thủ tục này.
– Trương Công Đắc (2016), Thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân ở nước ta trong điều kiện Việt Nam trở thành nền kinh tế thị trường đầy đủ, Luận án Tiến sĩ luật học, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Học viên Khoa học xã hội.
– Nguyễn Thị Nga (2016), Thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
– Nguyễn Thị Hải (2014), Hoàn thiện pháp luật về đầu tư – qua thực tiễn đầu tư nước ngoài tại Khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
– Trịnh Thị Thủy Hằng (2013), Điều kiện đầu tư kinh doanh ở Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong bối cảnh gia nhập WTO, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
– Nguyễn Thị Phương Hồng (2010), Thủ tục đăng ký và thẩm tra dự án đầu tư theo pháp luật đầu tư ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa luật Đại học Quốc gia Ha Noi
Những công trình nghiên cứu này đề cập đến một số khía cạnh của thủ tục pháp luật về đầu tư, một số nghiên cứu khoa học ở trên là những nghiên cứu đầu tiên cho phép các nhà đầu tư nước ngoài hiểu rõ hơn về luật đầu tư trước khi các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện các khoản đầu tư trực tiếp vào Việt Nam. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên chỉ để cập đến một số vấn đề của TTĐT, chưa bao quát được toàn bộ các vấn đề, các khía cạnh của đầu tư, chưa cho người đọc cách nhìn tổng quát nhất về lý luận cũng như thực tiễn thi hành TTĐT.
Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các quy định pháp luật nổi chung và các quy định về TTĐT nói riêng luôn có sự thay đổi, bổ sung để hoàn thiện hơn, phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội. Luật Đầu tư 2020 ra đời (có hiệu lực từ tháng 1 năm 2021) đã có những điều chỉnh nhất định về TTĐT so với Luật Đầu tư 2014. Những công trình nghiên cứu trở lại đây chưa có sự cập nhập về sự thay đổi này.
Do đó, luận văn này đề cập đến các quy định pháp luật về TTĐT trên phương diện kết hợp phân tích chi tiết và so sánh những quy định của Luật Đầu tư năm 2020 và Luật Đầu tư năm 2014, từ đó rút ra ưu điểm của những sự thay đổi này. Đồng thời, luận văn cũng chỉ ra những bất cập còn tồn tại trong quy định pháp luật cũng như thực tiễn thi hành, đưa ra phương hưởng khắc phục nhằm hoàn thiện hơn, nâng cao chất lượng quản lý Nhà nước về TTĐT. Đặc biệt, luận văn đi vào nghiên cứu sâu tại một địa phương thực tiễn về việc thực hiện TTĐT trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang.
3. Mục đích nghiên cứu
* Mục đích tổng quát: Đưa ra cái nhìn tổng quát về TTĐT và thực tiễn thực hiện TTĐTtrên địa bàn tỉnh Tuyên Quang Tìm ra các giải pháp để nâng cao chất lượng hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang và kiến nghị hoàn thiện pháp luật hiện hành về TTĐT.
* Mục đích cụ thể
– Phân tích các quy định pháp luật về TTĐT, so sánh giữa Luật Đầu tư năm 2020 và Luật Đầu tư năm 2014, từ đó chỉ ra những điểm mới, những ưu điểm và mặt hạn chế còn tồn tại của sự thay đổi này.
– Đánh giá một cách trung thực, toàn điện khách quan về thực tiễn áp dụng pháp luật về TTĐT trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang.
– Đưa ra các giải pháp để nâng cao chất lượng thực hiện TTĐT trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, kiến nghị hoàn thiện pháp luật hiện hành về TTĐT và nâng cao hiệu quả thực hiện TTĐT trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang.
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài Luận văn có đối tượng nghiên cứu là các quy định của pháp luật về thực hiện TTĐT và thực tiễn thực hiện TTĐT trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang.
4.2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài tiếp cận nghiên cứu và làm rõ các vấn đề mang tính chất lý luận và thực tiễn về TTĐT. Từ đó làm cho nhà đầu tư hiểu rõ hơn về những thủ tục cần thực hiện khi tiến hành một hoạt động đầu tư tại tỉnh Tuyên Quang. Để thực hiện được mục tiêu trên luận văn cần làm rõ khái niệm, bản chất của TTĐT và một số vấn đề pháp lý cũng như thực tiễn thực hiện TTĐT ở Tuyên Quang. Đồng thời chỉ ra những bất cập trong những quy định của pháp luật về TTĐT trong quá trình áp dụng vào thực tiễn tỉnh Tuyên Quang từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện hơn.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
– Thủ tục đầu tư là một lĩnh vực rất rộng do đó, luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề chung nhất về TTĐT và việc thực thi các thủ tục ấy trong khuôn khổ pháp luật. Từ những vấn đề lý luận chung luận văn tiếp tục đi vào đánh giá những quy định cụ thể của pháp luật hiện hành về TTĐT, những hạn chế, bất cập còn tồn tại của pháp luật, trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị theo quan điểm cá nhân của tác giả nhằm góp phần hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật và đảm bảo thực thi có hiệu quả trên thực tế.
– Luận văn nghiên cứu TTĐT với tính chất là một TTHC, là các thủ tục được quy định trong Luật Đầu tư và các văn bản pháp luật liên quan. Các thủ tục không mang tỉnh chất hành chính, các thủ tục mang tính kĩ thuật, chuyên môn trong lập dự án đầu tư, thẩm định dự án, sẽ không được đề cập trong luận văn này.
– Với cấp độ của một luận văn thạc sĩ, để những phân tích được súc tích, cô đọng hơn, luận văn sẽ không đi sâu phân tích các quy định về TTĐT của tất cả các hình thức đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư mà tập trung nghiên cứu sâu phân tích chi tiết TTĐT đối với một hình thức cụ thể, đó là hình thức thực hiện dự án đầu tư Những hình thức còn lại cũng sẽ được điểm qua mà không đi sâu vào phân tích chi tiết.
– Luận văn chỉ tập trung vào TTĐT trong nước, không nghiên cứu TTĐT ra nước ngoài. Các thủ tục về khiếu nại, giải quyết khiếu nại,… trong thực hiện TTĐT cũng không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn.
– Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu quy định của pháp luật về TTĐT theo hiệu lực của Luật Đầu tư hiện hành (Luật Đầu tư năm 2020), đánh giá thực trạng thi hành thủ tục pháp luật về đầu tư tại tỉnh Tuyên Quang giai đoạn từ năm 2018 đến hết năm 2020, làm rõ được những thành tựu đã đạt được và những hạn chế còn tồn tại trong qua trình thực thi pháp luật về TTĐT trên địa bàn tỉnh. Qua đó, chỉ ra những quy định mới của Luật Đầu tư 2020 đã khắc phục được những bất cập, hạn chế này như thế nào, đề xuất phương hưởng cải cách những thủ tục còn chưa hợp lý.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra, luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để tìm ra mối quan hệ biện chứng giữa pháp luật và thực tiễn thi hành. Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp sau:
– Phương pháp phân tích sử dụng ở tất cả các chương của luận văn nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về TTĐT tại tỉnh Tuyên Quang;
– Phương pháp tổng hợp và hệ thống hóa giúp liên kết các quan điểm, nhận xét, đánh giá, bình luận về TTĐT để phân tích, đưa ra quan điểm hoặc đánh giá về cơ sở lý luận, cũng như thực trạng quy định và thực tiễn thực hiện TTĐT. Các quan điểm, vấn đề được trình bảy một cách hệ thống trên cơ sở các tiêu chí mang tính logic.
– Phương pháp thống kê để thấy được số lượng thống kê về hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh. Từ đó, đánh giá tầm quan trọng của hoạt động đầu tư của địa bàn tỉnh Tuyên Quang.
– Phương pháp so sánh giữa các quy định của pháp luật về TTĐT trong các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau liên quan. So sánh quy định giữa Luật Đầu tư với Luật Doanh nghiệp, giữa Luật đầu tư năm 2014 và Luật đầu từ năm 2020.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận, luận văn là công trình khoa học nghiên cứu một số vấn đề pháp lý về TTĐT, chủ yếu tập trung vào thực trạng quy định pháp luật về hoạt động đầu tư và thực tiễn thực hiện TTĐT trong khuôn khổ pháp luật dưới cấp độ của một luận văn thạc sĩ. Luận văn góp phần bổ sung và phát triển lý luận về TTĐT, làm rõ thêm về thực trạng quy định và thực tiễn thực hiện các quy định này trên địa bàn cụ thể – tỉnh Tuyên Quang. Từ đó, cung cấp thêm những giải pháp cải cách hoàn thiện quy định pháp luật nước ta về TTĐT.
Về mặt thực tiễn, luận văn góp phần vào việc làm rõ quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về TTĐT và thực tiễn thi hành nhằm hoàn thiện hơn hệ thống công trình nghiên cứu liên quan đến các vấn đề riêng của TTĐT, đồng thời, luận văn cũng thể hiện những đánh giá phân tích của cá nhân liên quan đến việc xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm soát hoạt động này trong tương lai, là tài liệu, cơ sở để thảo luận, đánh giả và hoàn thiện nhận định của các công trình nghiên cứu tiếp theo.
7. Kết cấu của luận văn
Chương I: Những vấn đề lý luận về thủ tục đầu tư.
Chương II: Thực trạng pháp luật về thủ tục đầu tư.
Chương III: Thực tiễn thực hiện TTĐT trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang – Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về TTĐT và tăng cường hiệu quả thực hiện tại tỉnh Tuyên Quang.
Định dạng | Link tải |