Pháp luật về góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài
Định dạng | Link tải |

Mục lục
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| LỜI CAM ĐOAN | |
| DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT | |
| MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Tính cấp thiết của đề bài | 1 |
| 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu | 2 |
| 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu | 6 |
| 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu | 7 |
| 5. Các phương pháp nghiên cứu | 7 |
| 6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài | 8 |
| 7. Kết cấu của khóa luận | 8 |
| CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI | 10 |
| 1.1. Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại | 10 |
| 1.1.1. Khái niệm trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại | 10 |
| 1.1.2. Đặc điểm trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội | 18 |
| 1.2. Nội dung quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại | 22 |
| 1.3. Quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự một số quốc gia trên thế giới | 25 |
| 1.3.1. Quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa | 26 |
| 1.3.2. Quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự nước Cộng hòa Pháp | 28 |
| 1.3.3. Bài học cho Việt Nam | 30 |
| Tiểu kết chương 1 | 33 |
| CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI | 34 |
| 2.1. Phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại | 34 |
| 2.2. Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại | 42 |
| 2.3. Hình phạt áp dụng đối với pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự | 47 |
| 2.3.1. Các hình phạt chính | 48 |
| 2.3.2. Các hình phạt bổ sung áp dụng đối với pháp nhân thương mại | 50 |
| Tiểu kết chương 2 | 52 |
| CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BẤT CẬP CỦA CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI | 53 |
| 3.1. Một số bất cập của các quy định của luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại | 53 |
| 3.2. Kiến nghị hoàn thiện các quy định của luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại | 56 |
| Tiểu kết chương 3 | 59 |
| KẾT LUẬN | 60 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 62 |
Định dạng | Link tải |
Chương 2: LÝ LUẬN VỀ GÓP VỐN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ PHÁP LUẬT VỀ GÓP VỐN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
2.1. Lý luận về góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài
2.1.1. Khái niệm đầu tư, nhà đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài
Đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực tài chính, vật chất, lao động, trí tuệ, nhân công… để đạt được mục đích kinh tế xã hội và lợi nhuận trong tương lai. Nói một cách đơn giản hơn, đầu tư là việc hy sinh một khoản tiền hoặc tài sản hiện tại để thu về lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế lớn hơn trong tương lai. Hoạt động đầu tư có thể mang tính chất thương mại hoặc phi thương mại. Đầu tư mang lại nhiều lợi ích, bao gồm: tăng trưởng tài sản; tạo ra thu nhập thụ động; bảo vệ tài sản khỏi lạm phát; đạt được mục tiêu tài chính… Luật Đầu tư năm 2020 định nghĩa đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh. Uỷ ban thương mại và phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD), định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư có mối liên hệ, lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một pháp nhân hoặc thể nhân (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc công ty mẹ ) đối với một doanh nghiệp ở một nền kinh tế khác (doanh nghiệp FDI hoặc chi nhánh nước ngoài hoặc chi nhánh doanh nghiệp”.
Nhà đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư năm 2020 được hiểu là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, gồm nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Mục tiêu của nhà đầu tư là thu được lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế từ hoạt động đầu tư.
Khi xét đến thuật ngữ “nhà đầu tư nước ngoài” dưới các góc độ khác nhau, khái niệm này lại được nhìn nhận dưới theo các cách thức khác nhau.
Nhìn từ góc độ kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài có thể hiểu là cá nhân, tổ chức hoặc công ty có quốc tịch hoặc được thành lập theo pháp luật của một quốc gia nước ngoài, và thực hiện đầu tư vốn và tài nguyên vào một quốc gia khác [70]. Nhà đầu tư nước ngoài thường mang theo vốn, công nghệ, quản lý và kinh nghiệm kinh doanh từ quốc gia nơi họ có nguồn gốc. Mục tiêu chính của nhà đầu tư nước ngoài là tìm kiếm lợi nhuận và tạo thu nhập từ hoạt động kinh doanh trong quốc gia đầu tư. Việc đầu tư của họ có thể mang lại những lợi ích như: đóng góp vào tăng trưởng kinh tế; tạo việc làm và tăng thu nhập; nâng cao năng lực sản xuất; khuyến khích xuất khẩu; chuyển giao công nghệ,…
Nhìn từ góc độ pháp luật, các một số quốc gia, tổ chức trên thế giới đều sẽ đưa ra định nghĩa về “nhà đầu tư nước ngoài”. Theo Từ điển Thuật ngữ Thống kê của OECD, được ban hành năm 2008, nhà đầu tư nước ngoài được định nghĩa là: “Đơn vị cư trú” (tức là một cá nhân hoặc doanh nghiệp) “tại một nền kinh tế” (nước A) “có vốn đầu tư trực tiếp” (trên 10% cổ phần phổ thông hoặc quyền biểu quyết) “trong một doanh nghiệp” (tại nước B) “không phải là ‘đơn vị cư trú’“ (tại nước A). Trong Luật Đầu tư nước ngoài của nước Cộng Hòa Montenegro được WTO đăng tải:[1] “Nhà đầu tư nước ngoài, theo thuật ngữ của luật này, là:- pháp nhân nước ngoài có trụ sở chính ở nước ngoài;- công dân nước ngoài; – Công dân Nam Tư có thời gian cư trú hoặc lưu trú ở nước ngoài trên 1 năm; – công ty có trên 25% vốn nước ngoài và – công ty do người nước ngoài thành lập/thành lập tại Cộng hòa.”; Theo Luật liên bang về đầu tư nước ngoài 1999 của Nga[2], nhà đầu tư nước ngoài được định nghĩa “là pháp nhân nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự được xác định theo pháp luật của quốc gia nơi tổ chức đó được thành lập và được pháp luật của quốc gia đó cho phép đầu tư vào lãnh thổ Liên bang Nga; tổ chức nước ngoài không phải là pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự được xác định theo pháp luật của quốc gia nơi tổ chức đó được thành lập và theo pháp luật của quốc gia được đề cập có quyền đầu tư vào lãnh thổ Liên bang Nga; một công dân nước ngoài có năng lực và thẩm quyền pháp lý dân sự được xác định theo pháp luật của quốc gia mà người đó mang quốc tịch và có quyền theo pháp luật của quốc gia được đề cập để đầu tư vào lãnh thổ Liên bang Nga; một người không có quốc tịch, thường trú bên ngoài lãnh thổ Liên bang Nga và có năng lực pháp luật dân sự và năng lực được xác định theo pháp luật của quốc gia nơi người đó thường trú và là người có quyền theo pháp luật của quốc gia nói trên đầu tư vào lãnh thổ của Liên bang Nga; một tổ chức quốc tế được phép đầu tư trên lãnh thổ Liên bang Nga theo một điều ước quốc tế mà Liên bang Nga tham gia; các quốc gia nước ngoài tuân thủ một thủ tục do luật liên bang quy định.”. Điều 6 mới được sửa đổi của Luật Đầu tư nước ngoài tại Liên bang Nga, được Tổng thống ký ngày 18 tháng 7 năm 2017, thuật ngữ “nhà đầu tư nước ngoài” cũng được bổ sung thêm trường hợp “một công dân Nga có quốc tịch nước ngoài cũng như một công ty Nga do các nhà đầu tư nước ngoài kiểm soát.”; Khoản 6 Điều 1 Luật Đầu tư Indonesia nhìn nhận nhà đầu tư nước ngoài như sau: “Nhà đầu tư nước ngoài là một công dân nước ngoài, một thực thể kinh doanh nước ngoài hoặc một chính phủ nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Indonesia”.
Nhìn từ góc độ pháp luật Việt Nam, khoản 19 Điều 3 Luật Đầu tư 2020 quy định: “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.”
Có thể thấy, khái niệm về nhà đầu tư nước ngoài hiện nay được quy định tại Luật Đầu tư 2020 là một khái niệm tương đối cô đọng và đầy đủ, bao hàm đầy đủ những điểm chung nhất về nhà đầu tư nước ngoài khi xét trên mọi góc nhìn. Và tổng quan lại, dựa trên pháp luật Việt Nam hay pháp luật các nước trên thế giới, khái niệm nhà đầu tư nước ngoài có nổi bật một số điểm chúng như sau: (i) Cá nhân có quốc tịch nước ngoài, đủ năng lực hành vi dân sự, có vốn và đủ điều kiện thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam; hoặc Pháp nhân được thành lập theo pháp luật nước ngoài và có trụ sở tại nước ngoài, có vốn và đủ điều kiện thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.
2.1.2. Khái niệm, đặc điểm về góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài
Góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài là một hình thức đầu tư trực tiếp, trong đó nhà đầu tư nước ngoài sử dụng vốn của mình để thành lập doanh nghiệp mới hoặc mua lại phần vốn góp của doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam. Hệ thống pháp luật sẽ sử dụng các lý thuyết về lợi thế so sánh (thông qua việc so sánh lợi thế giữa Việt Nam và các quốc gia khác nhằm thúc đẩy hiệu quả kinh tế và tăng trưởng phát triển đầu tư) và lý thuyết chi phí giao dịch (thông qua việc tăng cường hợp tác liên kết giữa các doanh nghiệp, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, giảm chi phí giao dịch). Bên cạnh đó, lý thuyết chính trị về FDI đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế thị trường, thúc đẩy toàn cầu hóa và tăng cường các hoạt động hội nhập kinh tế, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài cũng sẽ có những giá trị tác động trực tiếp như tạo ra việc làm, tăng thu ngân sách, thúc đẩy việc sản xuất và tăng cường hoạt động xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài. Cùng với việc đón nhận những công nghệ tiên tiến, các cơ hội nhận chuyển giao công nghệ cao từ các quốc gia phát triển, điều này sẽ trực tiếp giúp nâng cao trình độ học vấn và tay nghề lao động của công dân Việt Nam. Đây là những yếu tố quan trọng đóng góp cho việc phát triển bền vững của một quốc gia.
Với khái niệm trên có thể thấy, việc góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài (FDI) là hoạt động góp vốn đầu tư trực tiếp, nhà đầu tư sẽ trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam, khác hoàn toàn với các hình thức đầu tư gián tiếp (FPI) như thông qua việc mua trái phiếu, chứng khoán. Cũng bởi đặc tính này, nhà đầu tư có quyền sở hữu, quản lý và sử dụng vốn đầu tư của mình tại Việt Nam theo mức độ sở hữu mà pháp luật Việt Nam quy định. Nhà đầu tư có thể chủ động kiểm soát hoạt động kinh doanh của mình, đảm bảo quản lý về lợi nhuận và chất lượng đầu ra sản phẩm. Nhà đầu tư nước ngoài sẽ cần tuân thủ các quy định pháp luật Việt Nam và thực hiện các nghĩa vụ cam kết trong chứng nhận đầu tư, đồng thời phải chịu sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam, họ cũng sẽ gặp những khó khăn trong việc thích ứng môi trường đầu tư mới và văn hóa khu vực.
2.1.3. Nguyên tắc góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài
Nguyên tắc góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài là nền tảng quan trọng trong việc thu hút nguồn vốn FDI hiệu quả và bền vững. Việc góp vốn của nhà đầu tư cần tuân theo những nguyên tắc cơ bản như: (1) Nguyên tắc bình đẳng: đây là nguyên tắc đảm bảo nhà đầu tư nước ngoài được hưởng các quyền và nghĩa vụ như nhà đầu tư trong nước, trừ những trường hợp có quy định khác của pháp luật. Nguyên tắc này sẽ giúp tăng cường niềm tin cho nhà đầu tư nước ngoài, xây dựng một môi trường công bằng, minh bạch, an toàn và hấp dẫn hơn với nhà đầu tư khi thực hiện góp vốn vào Việt Nam. Việc đảm bảo nguyên tắc bình đẳng sẽ giúp thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh giữa nhà đầu tư nước ngoài và khối các nhà đầu tư trong nước, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh đầu tư, thúc đẩy việc làm, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, và nước tiếp nhận đầu tư cũng sẽ đón nhận được những chuyển giao công nghệ tiên tiến, giúp phát triển kinh tế toàn diện; (2) Nguyên tắc đối xử quốc gia: đây là nguyên tắc bảo đảm cho nhà đầu tư nước ngoài được hưởng sự đối xử không phân biệt đối xử so với nhà đầu tư trong nước hay bất kỳ quốc gia nào khác, điều này cho thấy thiện chí của Việt Nam trong việc thực hiện cam kết hội nhập quốc tế, cũng sẽ giúp các phản hồi về nhu cầu góp vốn đầu tư cao hơn, gia tăng giá trị kinh tế cho Việt Nam. Các ưu đãi mà nhà đầu tư nước ngoài có thể được hưởng như các loại thuế phí, lệ phí, sự tạo điều kiện nhất định trong quy trình thủ tục hành chính, hay việc tiếp cận thị trường đầu tư. Việt Nam cũng cần cân nhắc kỹ lưỡng trong việc đảm bảo cân bằng lợi ích giữa nhà đầu tư nước ngoài và lợi ích quốc gia, đảm bảo cam kết thông qua các hiệp định đầu tư song phương giữa Việt Nam và quốc gia có chủ thể đầu tư góp vốn; (3)
Nguyên tắc minh bạch: đây là nguyên tắc đảm bảo luật pháp và các quy định pháp luật về góp vốn phải được công khai, dễ tiếp cận. Việc minh bạch thông tin sẽ giúp nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận thông tin, hiểu môi trường đầu tư, qua đó giảm thiểu được rủi ro kinh doanh, tăng tỷ lệ đầu tư hiệu quả, bền vững. Điều này cần được đảm bảo bởi hệ thống giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước, hay sự giám sát từ chính nhà đầu tư trong hoạt động góp vốn kinh doanh của mình. Yêu cầu về một hệ thống pháp luật được quy định chi tiết và rõ ràng, hỗ trợ công khai các thông tin về quy định đầu tư cũng như thông tin về sự án đầu tư trên các cổng thông tin điện tử của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hay của các cơ quan, bộ ngành liên quan khác; (4) Nguyên tắc chuyển đổi vốn: đây là nguyên tắc mà nhà đầu tư nước ngoài được phép chuyển đổi, chuyển lợi nhuận về nước hoặc ra nước ngoài khác theo quy định của pháp luật Việt Nam. Việc này sẽ giúp nhà đầu tư linh hoạt trong các nguồn vốn, chủ động trong việc phát triển mở rộng kinh doanh, góp phần cân bằng cán cân thanh toán quốc tế và quan trọng nhất, tạo được niềm tin của các chủ đầu tư khi họ thực hiện việc góp vốn vào Việt Nam.
2.1.4. Mục đích góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài
Có nhiều yếu tố đa dạng thể hiện mục đích góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài, có thể do chiến lược kinh doanh, điều kiện thị trường, các chính sách ưu đãi đầu tư. Nhưng tựu chung lại, việc thu hút nguồn vốn FDI sẽ mang lại hiệu quả khi quốc gia tiếp nhận đầu tư đảm bảo một môi trường đầu tư an toàn, minh bạch, có các chính sách ưu đãi hấp dẫn, phù hợp.
Nhà đầu tư góp vốn vào Việt Nam nhằm mở rộng thị trường mới, tìm kiếm các cơ hội tăng doanh thu và lợi nhuận thông qua việc tận dụng nguồn nhân lực giá rẻ, hoặc chi phí sản xuất thấp trong khi thị trường trong nước của họ bão hoà, mục đích nhằm tăng số lượng khách hàng và đa dạng hoá sản phẩm, tăng khả năng cạnh trên trên thị trường và chia sẻ rủi ro kinh doanh. Để việc mở rộng thị trường đạt được hiệu quả cao, nhà đầu tư cần có những chính sách nghiên cứu thị trường mới, hiểu rõ nhu cầu khách hàng và các quy định pháp lý của quốc gia tiếp nhận đầu tư. Lựa chọn phân khúc phát triển sản phẩm phù hợp với nhu cầu của khách hàng tại thị trường mới, trau dồi đội ngũ nhân sự chất lượng cao và xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp.
Tận dụng lợi thế so sánh cũng là một trong những mục đích góp vốn của nhà đầu tư. Đây là lợi thế mà một quốc gia hoặc một doanh nghiệp có thể sản xuất một sản phẩm hoặc dịch vụ với chi phí thấp hơn so với các quốc gia hoặc doanh nghiệp khác. Nhà đầu tư tranh thủ tận dụng những nguồn nhân lực giá rẻ, chi phí sản xuất thấp và giảm thiểu những rủi ro đầu tư, tăng lợi nhuận cho nhà đầu tư trong hoạt động kinh doanh. Việc tận dụng lợi thế so sánh là một chiến lược quan trọng trong việc thu hút FDI và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, nhà nước cũng cần có những phương án phù hợp đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững trong nước. Phân tán rủi ro đầu tư: đây là chiến lược giảm thiểu rủi ro, những tổn thất sẽ được chia sẻ cho nhiều cá nhân hoặc tổ chức khác nhau, giúp giảm thiểu biến động trong thu nhập hoặc lợi nhuận, tăng tính ổn đinh cho doanh nghiệp hoặc nhà đầu tư, nhà đầu tư cũng sẽ dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn hơn khi thực hiện mục đích này. Một số phương pháp phân tán rủi ro phổ biến như mua bảo hiểm, đa dạng hoá danh mục đầu tư, hợp tác kinh doanh với doanh nghiệp khác hay việc phát hành trái phiếu để phân tán rủi ro hiệu quả.
Tiếp cận công nghệ và nguồn lực là một mục đích quan trọng của các nhà đầu tư nước ngoài. Việc tiếp cận công nghệ và nguồn lực hiệu quả sẽ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh, hội nhập kinh tế, phát triển thị trường được nhanh và hiệu quả nhất. Nhà đầu tư sẽ thuận lợi trong việc tiếp cận công nghệ tiên tiến và nguồn nhân lực chất lượng cao, tiếp cận nguồn nguyên liệu giá rẻ sẽ giảm chi phí sản xuất, giảm thiểu rủi ro đầu tư và tăng giá trị lợi nhuận đầu tư cho doanh nghiệp.
2.1.5. Sự khác nhau giữa việc góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài với góp vốn của nhà đầu tư trong nước
Góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước sẽ có những khác nhau về mặt tiêu chí của việc góp vốn, và khác nhau về mặt lý luận góp vốn đầu tư. Đối với nhà đầu tư trong nước: về loại hình doanh nghiệp, nhà đầu tư trong nước sẽ được ghi nhận là loại hình doanh nghiệp trong nước, không bị giới hạn về tỷ lệ góp vốn đầu tư. Về quy trình thủ tục góp vốn được thấy là đơn giản hơn nhà đầu tư nước ngoài, và được điều chỉnh chính bởi pháp luật doanh nghiệp, hình thức góp vốn cũng được mở rộng hơn, nhà đầu tư sẽ được hưởng lợi nhuận trong nước, và tham gia quản lý trực tiếp doanh nghiệp của mình. Nhà đầu tư trong nước cũng phải chịu những rủi ro kinh doanh như nhà đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư trong nước gần như không bị hạn chế kinh doanh và không bị hạn chế tỷ lệ góp vốn đối với hoạt động kinh doanh của mình. Họ góp vốn đầu tư với mục tiêu chính trong việc góp vốn đầu tư là nhằm phát triển kinh tế trong nước, tạo ra việc làm và tăng thu nhập, phát triển cho người dân khu vực. Họ cũng được ưu tiên đầu tư trong những lĩnh vực được nhà nước khuyến khích phát triển. Nhà đầu tư trong nước cũng có những lợi thế như họ hiểu rõ môi trường kinh doanh trong nước, nắm được những đặc thù về văn hoá, chính sách, nhưng cũng phải đối diện với thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến từ chính những đối thủ trong nước của mình. Nhà nước cũng chủ trương có những chính sách hỗ trợ nhà đầu tư trong nước thông qua các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng hay đất đai, điều này được đảm bảo với tất cả các nhà đầu tư trong nước ngang bằng như nhau.
Đối với nhà đầu tư nước ngoài: về loại hình doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài sẽ được ghi nhận loại hình doanh nghiệp liên doanh, hoặc doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài, họ phải chấp nhận việc bị giới hạn về tỷ lệ góp vốn, điều này tuỳ thuộc vào ngành nghề kinh doanh khác nhau mà mức giới hạn tỷ lệ sẽ khác nhau. Việc xin quy trình thủ tục góp vốn cũng phức tạp hơn so với nhà đầu tư trong nước, họ cần xin giấy phép đầu tư để đảm bảo thủ tục pháp lý cho hoạt động kinh doanh của mình tại Việt Nam. Nhà đầu tư nước ngoài sẽ chịu sự điều chỉnh chính từ luật doanh nghiệp và Luật Đầu tư, việc góp vốn đầu tư của họ có thể là tiền, tài sản, công nghệ hay bí quyết kinh doanh, nhưng không được góp vốn bằng đất đai. Khi kinh doanh thành công, họ có thể hưởng lợi nhuận của mình và được quyền chuyển lợi nhuận đó ra nước ngoài sau khi hoàn thành các nghĩa vụ và quy định của pháp luật Việt Nam. Nhà đầu tư nước ngoài phải đối diện với nhiều rủi ro kinh doanh, những rủi ro về chênh lệch tỷ giá hối đoái hay sự thay đổi chính sách của nước sở tại, họ cũng có thể bị hạn chế tỷ lệ góp vốn trong một số ngành nghề kinh doanh đặc biệt và bị cấm đầu tư vào những ngành nghề nhạy cảm như quốc phòng, an ninh.
Pháp luật Việt Nam có quy định rõ ràng và rành mạch đối với trách nhiệm và quyền lợi của từng chủ thể đầu tư là khác nhau. Việc phân biệt và nhận diện rõ những đặc điểm trên sẽ giúp nhà đầu tư nhìn rõ hơn về chính sách và có chiến lược đầu tư phù hợp để đem lại hiệu quả kinh doanh tốt nhất cho mình.
2.2. Lý luận pháp luật về góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài
2.2.1. Khái niệm, đặc điểm pháp luật về góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài
Khái niệm pháp luật về góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài
Pháp luật góp vốn của NĐTNN là các quy định liên quan đến việc nhà đầu tư từ một quốc gia này đầu tư vốn vào một quốc gia khác nhằm thực hiện hoạt động kinh doanh tại đất nước đó, đây là vấn đề nghiên cứu mà chưa có nhiều tác giả đưa ra quan điểm nhận định vấn đề này. Theo lý luận chung về nhà nước và pháp luật, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội. Cùng với đó, qua những phân tích về khái niệm góp vốn thì bản chất của góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty. Như vậy, pháp luật về góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài là hệ thống quy định pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ về góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty, bao gồm góp vốn để thành lập công ty hoặc góp thêm vốn điều lệ của công ty đã được thành lập. Pháp luật về góp vốn của NĐTNN điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản sau: (i) Quan hệ giữa các thành viên, cổ đông là NĐTNN với nhau và với nhà đầu tư trong nước về thỏa thuận góp vốn, định giá tài sản góp vốn; (ii) Quan hệ giữa các thành viên, cổ đông là NĐTNN và cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan đăng ký đầu tư; (iii) Quan hệ giữa các thành viên, cổ đông là NĐTNN và tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp để định giá tài sản góp vốn; (iv) Quan hệ giữa các thành viên, cổ đông là NĐTNN trong việc thực hiện các nghĩa vụ về cam kết góp vốn.
Để điều chỉnh các quan hệ trong việc góp vốn của NĐTNN không chỉ có quy phạm pháp Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp mà còn có cả vai trò điều chỉnh của nhiều quy phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác như các quy định pháp luật giữa quốc gia có chủ thể đầu tư đi đầu tư, quốc gia tiếp nhận đầu tư, các quy định pháp luật quốc tế nói chung, Bộ luật Dân sự, Luật Tài chính, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Thương mại và nhiều văn bản pháp luật khác liên quan.
Đặc điểm pháp luật về góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài
Thứ nhất, pháp luật về góp vốn của NĐTNN cũng mang những đặc điểm chung của pháp luật đều là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung; thể hiện ý chí của Nhà nước; do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện; được thể hiện dưới những hình thức nhất định: pháp luật tập quán, pháp luật án lệ, văn bản quy phạm pháp luật và Nhà nước có thể dùng biện pháp cưỡng chế để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện. Bên cạnh đó, pháp luật về góp vốn của NĐTNN cũng thể hiện những đặc tính chung nhất của pháp luật như: (i) Là hệ thống pháp luật cơ bản; (ii) Đảm bảo quyền và lợi ích của cả hai bên; (iii) Đảm bảo sự minh bạch và công bằng; (iv) Quy trình và thủ tục rõ ràng; (v) Các quy định về trách nhiệm pháp lý và quy định về áp dụng pháp luật.
Thứ hai, bên cạnh những đặc điểm chung, pháp luật về góp vốn của NĐTNN cũng có những đặc trưng riêng phản ánh sự khác biệt về quy định pháp luật và hình thức đầu tư giữa các quốc gia là khác nhau. Điển hình như: (i) Luôn có các quy định về giới hạn tỷ lệ sở hữu vốn tại một số ngành nghề hạn chế tiếp cận thị trường: Một số quốc gia trên thế giới có áp dụng quy định về tỷ lệ sở hữu vốn đối với nhà đầu tư nước ngoài, điều này có thể ảnh hưởng đến quyền kiểm soát và điều hành, hoặc đưa ra các chiến lược kinh doanh sẽ bị hạn chế hơn; (ii) Ban hành các ngành nghề kinh doanh bị cấm hoặc hạn chế tiếp cận thị trường: Một số nước ban hành các quy định về hạn chế hoặc cấm nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào hoạt động kinh doanh trong một số lĩnh vực quan trọng hoặc các lĩnh vực kinh doanh chiến lược quốc gia, như các ngành liên quan đến quốc phòng, y tế, giáo dục, truyền thống…; (iii) Các chính sách thuế và ưu đãi đầu tư: Nhiều quốc gia tiếp nhận đầu tư ban hành những chính sách tạo điều kiện trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài như miễn thuế, giảm thuế và các ưu đãi khác phụ thuộc vào ngành nghề được ưu đãi kinh doanh hoặc địa bàn thu hút đầu tư; (v) Bảo đảm quyền đầu tư: Quyền lợi và bảo hộ quyền cho các nhà đầy tư nước ngoài sẽ được quốc gia nhận đầu tư bảo vệ, quốc gia tiếp nhận đầu tư ban hành các quy định về việc bảo vệ quyền tài sản, quyền sở hữu và quyền hưởng lợi của nhà đầu tư nước ngoài khi góp vốn đầu tư. Về mặt lý luận pháp luật, pháp luật về góp vốn đầu tư nước ngoài còn có những đặc trưng cơ bản: (i) Pháp luật về góp vốn của NĐTNN là sự thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước trong việc thu hút đầu tư nước ngoài, hội nhập kinh tế, tạo môi trường đầu tư công bằng, bình đẳng tại Việt Nam giữa các nhà đầu tư trong nước, NĐTNN; (ii) Pháp luật về góp vốn của NĐTNN thuộc lĩnh vực pháp luật tư. Pháp luật góp vốn của NĐTNN liên quan đến quan hệ giữa các cá nhân, tổ chức là nhà đầu tư hoặc cá nhân, tổ chức là nhà đầu tư tư và nhà nước trong quan hệ bình đẳng; (iii) Pháp luật về góp vốn của NĐTNN cần được xây dựng phù hợp với các điều ước, cam kết, hiệp định quốc tế. Đây là một đặc điểm đặc trưng quan trọng của pháp luật góp vốn NĐTNN. Việc ký kết, tham gia các điều ước quốc tế, hiệp định quốc tế đã tạo ra một cơ sở ràng buộc về việc mở cửa của thị trường trong nước đối với các quốc gia. Từ đó, đòi hỏi pháp luật quốc gia phải có những quy định phù hợp, tạo cơ sở thuận lợi cho việc thực hiện, áp dụng pháp luật cũng như một môi trường đầu tư an toàn, minh bạch, rõ ràng trong hành lang pháp lý.
2.2.2. Cấu trúc về nội dung pháp luật về góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài
Quy định về chủ thể góp vốn
Quy định về chủ thể góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài có thể khác nhau tuỳ theo quốc gia và pháp luật của từng quốc gia. Tuy nhiên, nhà đầu tư nước ngoài khi tham gia góp vốn đầu tư có thể là cá nhân hoặc pháp nhân, đáp ứng được các điều kiện về chủ thể nói chung. Có thể chia thành hai nhóm chủ thể như sau: (i) Chủ thể góp vốn là cá nhân: Cá nhân là chủ thể đầu tư tham gia vào giao dịch góp vốn sang một quốc gia khác, phải đáp ứng được năng lực pháp luật và năng lực hành vi đối với quốc gia tiếp nhận đầu tư, thể hiện nổi bật ở một số đặc điểm sau: Có tư cách pháp lý; có năng lực hành vi; có năng lực tài chính, tuỳ theo mỗi quốc gia khác nhau mà có các yêu cầu, quy định về chứng minh tài chính khác nhau để đảm bảo khả năng góp vốn đầu tư ra nước ngoài của họ; (ii) Chủ thể góp vốn là tổ chức, pháp nhân: Điều kiện về chủ thể là pháp nhân góp vốn đầu tư nước ngoài ở mỗi quốc gia khác nhau sẽ có quy định khác nhau. Tuy nhiên, điều kiện về năng lực pháp luật và năng lực hành vi của pháp nhân các nước sẽ thông qua một số đặc điểm cơ bản sau: Có tư cách pháp lý, tư cách pháp lý này được xác định bởi các quy định và luật pháp của quốc gia mà pháp nhân nước ngoài muốn đầu tư vào, pháp nhân nước ngoài phải đăng ký với cơ quan quản lý và nhận được giấy phép hoạt động phù hợp để thực hiện góp vốn và hoạt động kinh doanh tại quốc gia nhận đầu tư; có năng lực tài chính, năng lực tài chính có thể thông qua kết quả kinh doanh hàng năm, báo cáo tài chính có lãi hay số dư tài khoản ngân hàng…; đại diện pháp lý của chủ thể là pháp nhân: nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, pháp nhân thường cần uỷ quyền cho một đại diện pháp lý hoặc đại diện tham gia quản lý công ty để thực hiện các quyết định liên qfuan đến đầu tư và hoạt động kinh doanh của dự án tại nước ngoài. Đại diện pháp lý này và pháp nhân nước ngoài cần tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật và quy định của quốc gia đầu tư. Điều này bao gồm việc tuân thủ các quy định về thuế, lao động, môi trường và các vấn đề khác có liên quan. Quyền và nghĩa vụ của NĐTNN: Tuỳ mỗi quốc gia khác nhau sẽ có các quy định về quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài khác nhau. Phụ thuộc vào quy định pháp Luật Đầu tư, các điều khoản và điều kiện trong hợp đồng góp vốn, các dự án cụ thể khi nhà đầu tư tham gia góp vốn. Tựu chung sẽ có những đặc điểm cơ bản như sau: (i) Quyền sở hữu và quyền kiểm soát; (ii) Quyền nhận lợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài; (iii) Quyền tham gia quản lý và ra quyết định; (iv) Quyền tiếp cận thông tin; (v) Quyền bảo vệ lợi ích và giải quyết tranh chấp; (vi) Quyền tham gia vào hoạt động tăng vốn hoặc chuyển nhượng vốn của doanh nghiệp. Nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài khi góp vốn đầu tư: đây là những cam kết và những trách nhiệm mà nhà đầu tư nước ngoài phải tuân thủ khi tham gia đầu tư vào doanh nghiệp hoặc dự án đầu tư tại một quốc gia khác. Nghĩa vụ này sẽ được điều chỉnh bởi các quy định pháp Luật Đầu tư và pháp luật quốc tế, các hợp đồng góp vốn đầu tư. Cơ bản sẽ có các nghĩa vụ sau: (i) Nghĩa vụ thực hiện hợp đồng và cam kết hợp đồng; (ii) Nghĩa vụ tuân thủ các quy định pháp luật của quốc gia tiếp nhận đầu tư về điều kiện đầu tư, loại hình và phạm vi được phép đầu tư, các giới hạn và hạn chế đầu tư của quốc gia tiếp nhận đầu tư. Đáp ứng các yêu cầu về thuế, báo cáo tài chính, quản lý tài sản doanh nghiệp và thực hiện các cam kết về quản lý và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các quy định về bảo vệ môi trường, việc sử dụng lao động và bảo vệ quyền lợi của người lao động như tuân thủ các quy định về lương, thời gian làm việc, an toàn lao động…theo pháp luật quốc gia tiếp nhận đầu tư; (iii) Nghĩa vụ bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan; (iv) Nghĩa vụ đóng góp kiến thức và kỹ năng, công nghệ tiên tiến của nhà đầu tư nước ngoài; (v) Nghĩa vụ tham gia giải quyết tranh chấp của nhà đầu tư nước ngoài.
Điều kiện góp vốn
Điều kiện góp vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào quy định của quốc gia tiếp nhận đầu tư, mỗi quốc gia sẽ có các quy định pháp luật và chính sách đặc thù riêng, nhằm thu hút đầu tư và thực hiện quản lý các hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài. Một số điều kiện góp vốn chung cơ bản như: (i) Điều kiện về đăng ký góp vốn đầu tư: các quy định về hồ sơ đăng ký chứa đựng các thông tin về doanh nghiệp, nguồn tài chính, mục tiêu đầu tư… sẽ được quốc gia tiếp nhận đầu tư xác thực và đánh giá năng lực của nhà đầu tư. Nhà đầu tư cần đáp ứng được các điều kiện đăng ký như lĩnh vực đầu tư, các điều kiện về vốn, môi trường…Sau khi đáp ứng được các điều kiện về mặt hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền sẽ cấp phép phê duyệt giấy phép đầu tư thực hiện dự án, đôi khi có thể bị từ chối cấp phép dự án nếu không đáp ứng đứng điều kiện về đăng ký đầu tư; (ii) Điều kiện về vốn đầu tư tối thiểu: điều kiện này có thể khác nhau tuỳ thuộc vào quốc gia và lĩnh vực mà nhà đầu tư muốn tham gia đầu tư. Về mặt bằng chung, các quốc gia thường thiết lập một mức vốn tối thiểu để đáp ứng được điều kiện đầu tư, thể hiện tính nghiêm túc và bền vững của các dự án đầu tư nước ngoài. Ở Trung Quốc, mức vốn đầu tư tối thiểu khá cao trong một số ngành nghề kinh doanh như tài chính hay bất động sản, mặc dù quốc gia này đã tiến hành cải cách hành chính đối ngoại và giảm mức vốn đầu tư tối thiểu trong nhiều lĩnh vực. Ấn độ cũng là quốc gia áp dụng chính sách giảm mức vốn đầu tư tối thiểu nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nhưng tỷ lệ vốn vẫn phải đáp ứng được các tiêu chuẩn nhất định tuỳ theo từng lĩnh vực khác nhau để đảm bảo tính nghiêm túc và bền vững của dự án. Singapore không áp đặt mức vốn đầu tư tối thiểu đối với nhà đầu tư nước ngoài, quốc gia này chủ trương mở cửa thu hút các nguồn vốn ngoại, tuy nhiên các nhà đầu tư phải nghiêm túc tuân thủ các quy định và các yêu cầu pháp lý của quốc gia[3]. Tại Việt Nam, các chính sách đầu tư đã được cải cách và giảm mức đầu tư tối thiểu trong nhiều lĩnh vực, tuy nhiên vẫn có ngành yêu cầu vốn tối thiểu cao hơn các lĩnh vực khác như ngân hàng, dịch vụ tài chính…; (iii) Điều kiện về giới hạn lĩnh vực góp vốn đầu tư: phụ thuộc vào ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh nhà đầu tư nước ngoài có thể tham gia trong một quốc gia cụ thể. Những điều kiện giới hạn này thường được ban hành bởi chính phủ, áp dụng nhằm mục đích bảo vệ lợi ích kinh tế, quốc phòng, an ninh, văn hoá… của quốc gia tiếp nhận đầu tư. Các nhà đầu tư nước ngoài sẽ không được phép tham gia đầu tư vào các ngành công nghiệp và dịch vụ liên quan đến quân sự và an ninh quốc gia. Các ngành công nghiệp nhạy cảm và công nghệ thông tin có thể nằm trong phạm vi giới hạn đầu tư đối với nhà đầu tư có vốn nước ngoài. Một số quốc gia có giới hạn về việc nhà đầu tư nước ngoài không được tham gia đầu tư các ngành thuộc lĩnh vực tài chính, ngân hàng nhằm bảo vệ ổn định tài chính và quản lý rủi ro kinh tế, ngành công nghiệp khai thác tài nguyên tự nhiên như dầu mỏ, khí đốt, quặng nhằm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, hay các ngành dịch vụ công cộng quan trọng; (iv) Điều kiện về sở hữu và kiểm soát đầu tư: điều kiện này đảm bảo cân bằng trong việc tham gia đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài và quốc gia tiếp nhận đầu tư, đảm bảo việc kiểm soát quyền lợi kinh tế và chính trị trong một số lĩnh vực chiến lược. Một số lĩnh vực kinh doanh nhà đầu tư nước ngoài buộc phải liên doanh với các công ty địa phương để thực hiện hoạt động kinh doanh, trong đó có giới hạn tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài. Các quốc gia khác nhau sẽ có các tiêu chí kiểm soát đầu tư khác nhau, nhưng đều có chung một đặc điểm là thiết lập các giới hạn và yêu cầu đặc biệt đối với nhà đầu tư nước ngoài khi tham gia góp vốn; (v) Điều kiện về tài sản góp vốn đầu tư: các quốc gia khác nhau có quy định về điều kiện tài sản góp vốn khác nhau tuỳ thuộc vào nhu cầu và chủ trương phát triển kinh tế từng giai đoạn của quốc gia đó. Các loại tài sản phổ biến thường được các quốc giá chấp nhận như tiền mặt, tài sản, kỹ thuật, quyền sử dụng đất, giấy tờ có giá trị, quyền sở hữu trí tuệ… và việc góp vốn phải tuân thủ theo các quy định, quy trình của quốc gia tiếp nhận đầu tư. Một số quốc gia yêu cầu nhà đầu tư phải cung cấp được các giấy tờ, thông tin chứng minh được nguồn gốc hợp pháp của tài sản góp vốn, nhà đầu tư cần đáp ứng các điều kiện về việc đăng ký tài sản theo đúng quy trình của quốc gia tiếp nhận đầu tư. Quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi và sở hữu hợp pháp của nhà đầu tư nước ngoài khi góp vốn đầu tư vào dự án. Dưới đây, tác giả sẽ đi tìm hiểu và phân tích điều kiện góp vốn của một số nước trên thế giới (Phụ lục 01. Điều kiện góp vốn của một số nước trên thế giới – Trang 157).
Tài sản góp vốn và định giá tài sản góp vốn
Tài sản góp vốn
Tài sản góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài là các nguồn tài chính hoặc quyền sở hữu khác mà nhà đầu tư nước ngoài đưa vào dự án đầu tư tại quốc gia tiếp nhận. Các tài sản góp vốn này thường được nhà đầu tư nước ngoài đưa vào để thực hiện dự án kinh doanh, đầu tư vào doanh nghiệp, hoặc tham gia các hoạt động sản xuất và kinh doanh. Tài sản góp vốn vào Việt Nam ghi nhận: (i) Tiền mặt: đây là một trong những hình thức phổ biến và đơn giản nhất khi nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư vào một dự án hoặc doanh nghiệp tại quốc gia tiếp nhận. Khi nhà đầu tư nước ngoài quyết định góp vốn vào một dự án, họ có thể đưa tiền mặt vào dự án đó để đạt được tỷ lệ sở hữu tương ứng. Tiền mặt có thể được sử dụng cho các mục đích như thanh toán nguồn vốn đầu tư ban đầu, sử dụng hỗ trợ hoạt động kinh doanh của dự án, tăng vốn hoặc mở rộng hoạt động của dự án hoặc dùng để chi trả lãi suất hoặc cổ tức cho nhà đầu tư. Tiền mặt được ghi nhận là một loại tài sản góp vốn đầu tư linh hoạt, đặc biệt là trong các dự án mới hoặc các lĩnh vực đầu tư đòi hỏi thanh toán nhanh chóng và hiệu quả; (ii) Tài sản vật chất: đây là một trong các loại tài sản phổ biến mà nhà đầu tư nước ngoài có thể đưa vào dự án hoặc doanh nghiệp tại quốc gia tiếp nhận. Tài sản góp vốn vật chất bao gồm các tài sản tồn tại ở dạng vật chất như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, cơ sở hạ tầng và các tài sản khác có giá trị trong hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc dịch vụ của dự án hoặc doanh nghiệp. Khi nhà đầu tư nước ngoài quyết định góp vốn bằng tài sản vật chất, những tài sản này sẽ được cung cấp cho dự án hoặc doanh nghiệp tại quốc gia tiếp nhận và được sử dụng để thực hiện hoạt động kinh doanh, hỗ trợ cải thiện và nâng cao hiệu suất sản xuất và tối ưu công nghệ. Tuy nhiên, loại tài sản này thường cần được định giá giá trị tài sản để xác định giá trị đầu tư, quá trình này có thể thông qua một tổ chức có chức năng định giá chuyên nghiệp thực hiện để đảm bảo tính chính xác, chuyên môn, và khách quan của việc xác định giá trị vốn góp; (iii) Quyền sở hữu trí tuệ: đây là những tài sản vô hình, không có thể nhìn thấy hoặc chạm vào, nhưng có giá trị kinh tế cao do mang tính sáng tạo và duy nhất. Góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ có thể tồn tại dưới nhiều hình thức, như bằng sáng chế, nhà đầu tư có thể sử dụng tài sản góp vốn này như một sự đảm bảo vệ tính đột phá và khác biệt trong sản phẩm, công nghệ của dự án. Nhãn hiệu cũng là một trong những tài sản góp vốn nhằm mục đích tăng cường xây dựng danh tiếng và phủ thị trường kinh doanh hoặc góp vốn bằng bản quyền, các loại giấy phép và chứng chỉ có giá trị cũng là một trong những loại tài sản góp vốn có tính cạnh tranh và độc đáo, tuy nhiên, nhà đầu tư cần nghiên cứu chính sách của quốc gia tiếp nhận đầu tư liên quan đến loại tài sản góp vốn này, đảm bảo tính tuân thủ pháp luật quốc gia tiếp nhận. Góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ cũng cần phải được định giá giá trị tài sản góp vốn trước khi sử dụng góp vốn đầu tư. Điều nay đảm bảo tính chính xác, minh bạch, khách quan đầu tư khi góp vốn; (iv) Quyền sử dụng đất: Nhà đầu tư nước ngoài bị hạn chế đối với việc sở hữu và đầu tư kinh doanh đối với tài sản là đất đai tại Việt Nam. Nhà đầu tư nước ngoài sẽ không được góp vốn bằng quyền sử dụng đất tại Việt Nam. Tuy nhiên, nhà đầu tư nước ngoài được quyền hoạt động kinh doanh bất động sản tại Việt Nam. Nhà đầu tư nước ngoài cần thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam khi muốn thực hiện hoạt động kinh doanh bất động sản. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được quyền kinh doanh bất động sản tại Việt Nam dưới các hình thức kinh doanh như: Thứ nhất, thuê nhà, công trình xây dựng để cho thuê lại; Thứ hai, đối với đất được Nhà nước cho thuê thì được đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê; đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng không phải là nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua; Thứ ba, nhận chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án BĐS của chủ đầu tư để xây dựng nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua; Thứ tư, đầu tư xây dựng
nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua đối với đất được Nhà nước giao. Như vậy, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang thực hiện hoạt động kinh doanh bất động sản tại Việt Nam sẽ được quyền góp vốn bằng quyền kinh doanh bất động sản của mình theo các hình thức kinh doanh trên để thực hiện hoạt động góp vốn đầu tư tại Việt Nam; (v) Cổ phần và vốn góp vào doanh nghiệp: nhà đầu tư có thể đưa vào cổ phần (cho các doanh nghiệp công cổ phần) hoặc vốn góp (cho các doanh nghiệp có hình thức liên doanh, hợp tác đầu tư, hoặc 100% vốn nước ngoài). Nhà đầu tư nước ngoài thông qua việc góp cổ phần hoặc vốn góp vào doanh nghiệp có thể tham gia vào quản lý và ra quyết định trong hoạt động của doanh nghiệp, từ đó đảm bảo quyền lợi và sở hữu trong doanh nghiệp đó. Việc góp vốn bằng hình thức này cũng cần tuân thủ các quy định pháp luật của quốc gia tiếp nhận đầu tư và được sự chấp thuận của doanh nghiệp nhận nguồn vốn góp. (Phụ lục 02. Tài sản góp vốn theo pháp luật một số quốc gia – Trang 161)
Định giá tài sản góp vốn
Định giá tài sản góp vốn là quá trình xác định giá trị của tài sản mà nhà đầu tư nước ngoài đưa vào dự án hoặc doanh nghiệp khi tham gia góp vốn. Việc định giá tài sản góp vốn là rất quan trọng để xác định tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư trong dự án hoặc doanh nghiệp và xác định giá trị cổ phần hoặc vốn góp.
Nguyên tắc định giá tài sản góp vốn: Việc định giá tài sản góp vốn đầu tư cần đảm bảo tuân thủ một số nguyên tắc chung nhất định, để đáp ứng được điều kiện thẩm định giá trị góp vốn được chính xác và khách quan nhất như: (i) Đảm bảo nguyên tắc minh bạch và khách quan; (ii) Nguyên tắc tương đồng; (iii) Nguyên tắc thị trường; (iv) Nguyên tắc chiết khấu dòng tiền (discounted cash flow – DCF; (v) Nguyên tắc đánh giá rủi ro; (vi) Nguyên tắc tuân thủ quy định pháp luật.
Điều kiện tài sản định giá: Mỗi quốc gia khác nhau sẽ có quy định về điều kiện tài sản định giá khác nhau. Tuỳ thuộc vào lĩnh vực cụ thể, có thể có các quy định và yêu cầu khác nhau liên quan đến việc định giá tài sản góp vốn đầu tư. Tự chung phải đảm bảo được các điều kiện sau: phải tuân thủ các nguyên tắc định giá tài sản, các thông tin phải công khai, đội ngũ định giá có chuyên môn chuyên nghiệp, tuân thủ các quy định pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư. Đối với các tài sản góp vốn lớn và quan trọng có thể yêu cầu thực hiện kiểm toán và đánh giá rủi ro bởi các cơ quan hoặc chuyên gia độc lập để đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy trong quá trình định giá.
Thời điểm định giá tài sản góp vốn: phụ thuộc vào mục đích định giá, loại tài sản và quy định pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư, mà nhà đầu tư sẽ có các thời điểm định giá tài sản góp vốn khác nhau. Cơ bản thông qua các thời điểm sau: thời điểm khởi tạo dự án hoặc doanh nghiệp mới, thời điểm góp vốn, thời điểm tăng vốn hoặc chuyển nhượng vốn, thời điểm hợp nhất hoặc mua bán doanh nghiệp, thời điểm định kỳ. Quyết định thời điểm định giá tài sản góp vốn đầu tư phụ thuộc vào mục tiêu định giá và ngữ cảnh cụ thể của từng dự án cụ thể. Đối với các dự án và doanh nghiệp có tính phức tạp và lớn, việc định giá có thể được thực hiện định kỳ để theo dõi và đánh giá sự thay đổi trong giá trị tài sản theo thời gian.
Phương pháp thẩm định giá định giá tài sản góp vốn: Có nhiều phương pháp thẩm định giá để định giá tài sản góp vốn đầu tư, tùy thuộc vào loại tài sản và mục đích định giá. Trên thế giới hiện nay ghi nhận một số phương pháp thẩm định giá trị tài sản phổ biến như sau: (i) Phương pháp so sánh thị trường (Market Approach);
(ii) Phương pháp giá trị tài sản (Cost Approach); (iii) Phương pháp chiết khấu dòng tiền (Income Approach); (iv) Phương pháp tham chiếu (Guideline Public Company Method); (v) Phương pháp lựa chọn tối ưu (Option Pricing Method).
Thẩm quyền định giá tài sản góp vốn: Thẩm quyền định giá tài sản góp vốn đầu tư có thể thay đổi tùy thuộc vào quốc gia và lĩnh vực đầu tư cụ thể. Trong nhiều trường hợp, việc định giá tài sản góp vốn đầu tư thuộc thẩm quyền của các chuyên gia định giá, kiểm toán viên, hay cơ quan chức năng có thẩm quyền. Dưới đây là một số thẩm quyền thông thường có trong quá trình định giá tài sản góp vốn đầu tư: (i) Chuyên gia định giá; (ii) Kiểm toán viên; (iii) Cơ quan chức năng có thẩm quyền; (iv) Các bên tự thỏa thuận. Thẩm định giá tài sản của một số quốc gia trên thế giới: (i) Anh Quốc: Quốc gia này chỉ ghi nhận quyền thẩm định giá tài sản bắt buộc phải được thực hiện thông qua tổ chức định giá chuyên nghiệp[4]. Người thẩm định giá bắt buộc phải có chuyên môn, chứng chỉ và kiến thức để thực hiện hoạt động thẩm định giá. Mọi hoạt động định giá tài sản cần phải được đảm bảo tính khách quan, minh bạch; (ii) Hoa Kỳ: Quy trình định giá tài sản ở quốc gia này được ghi nhận trong bản Chuẩn hoá Kiểm toán (Accounting Standard Codification – ASC) cũng yêu cầu yêu cầu tài sản được đóng góp được định giá theo giá trị hợp lý, được xác định là “giá tiền nhận được để bán tài sản hoặc trả tiền để chuyển nhượng khoản nợ trong một giao dịch có trật tự giữa các bên tham gia thị trường vào thời điểm đo lường”. Tiêu chuẩn này cung cấp một khung để xác định giá trị hợp lý của tài sản dựa trên thông tin đầu vào dựa trên thị trường, thông tin đầu vào dựa trên thu nhập hoặc thông tin đầu vào dựa trên tài sản cụ thể. Quá trình định giá tài sản được đóng góp ở Hoa Kỳ thường được thực hiện bởi một chuyên gia độc lập bên thứ ba hoặc bởi đội kế toán nội bộ của công ty. Quá trình định giá phải được tiến hành theo các Nguyên tắc Kế toán Chấp nhận Được (GAAP) và phải được hỗ trợ bằng tài liệu đầy đủ.
Phương thức góp vốn
Phương thức góp vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài là cách thức mà nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào hoạt động đầu tư vào Việt Nam bằng cách góp vốn đầu tư vào các doanh nghiệp Việt Nam hoặc thành lập doanh nghiệp 100% có vốn nước ngoài. Về bản chất, có ba phương thức góp vốn đầu tư phổ biến.
Góp vốn, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế: nhà đầu tư có thể thực hiện việc góp vốn hoặc mua phần vốn góp của các tổ chức kinh tế (bao gồm các loại hình doanh nghiệp như công ty TNHH, công ty cổ phần…) đã được thành lập hợp pháp tại Việt Nam. Phương thức góp vốn này sẽ phù hợp với những nhà đầu tư có nhu cầu tận dụng năng lực có sẵn của tổ chức kinh tế, phù hợp với nhu cầu mục tiêu thực tế của nhà đầu tư. Để áp dụng được phương thức này, nhà đầu tư cũng cần đảm bảo việc đáp ứng được các điều kiện theo quy định pháp luật Việt Nam về góp vốn đầu tư, lĩnh vực đầu tư cũng phải nằm trong danh mục ngành nghề được phép kinh doanh áp dụng đối với chủ thể là nhà đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư cũng cần đáp ứng được quy định về tỷ lệ góp vốn cho từng ngành, nghề kinh doanh cụ thể theo quy định pháp luật.
Thành lập doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài: đây là một trong những phương thức góp vốn phổ biến của nhà đầu tư nước ngoài hiện nay. Việc này đảm bảo việc quản lý trực tiếp và kiểm soát hoạt động kinh doanh được chủ động nhất. Nhà đầu tư nước ngoài phải đáp ứng được các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam về đầu tư, áp dụng đối với ngành nghề đăng ký đầu tư, tỷ lệ vốn tối thiểu hay vốn pháp định, về việc đáp ứng các điều kiện đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, các lĩnh vực đăng ký đầu tư phải nằm trong dnah mục ngành nghề được phép kinh doanh theo quy định pháp luật Việt Nam.
Góp vốn, mua phần vốn góp của công ty liên doanh: đây là phương thức góp vốn mà nhà đầu tư mua lại một phần vốn góp hoặc góp vốn vào một công ty được liên doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư Việt Nam đã có sẵn. Phương thức góp vốn này nhà đầu tư cũng cần đảm bảo việc tuân thủ việc đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam về đầu tư. Đảm bảo hệ thống ngành nghề kinh doanh đúng theo lĩnh vực được phép đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài. Tỷ lệ góp vốn trong công ty liên doanh cũng cần được lưu ý đảm bảo theo quy định pháp luật và theo thoả thuận dân sự giữa các nhà đầu tư.
Thủ tục góp vốn
Thủ tục góp vốn đầu tư ở các quốc gia khác nhau sẽ có quy định khác nhau, tuỳ theo quy định pháp luật quốc gia tiếp nhận đầu tư và loại hình góp vốn đầu tư. Tuy nhiên, dưới đây là một số thủ tục phổ biến khi nhà đầu tư nước ngoài muốn góp vốn đầu tư tại một quốc gia: (i) Đăng ký góp vốn đầu tư: Nhà đầu tư nước ngoài cần phải đăng ký góp vốn đầu tư với cơ quan quản lý đầu tư của quốc gia tiếp nhận đầu tư. Đăng ký góp vốn đầu tư thường bao gồm việc điền vào mẫu đơn đăng ký và cung cấp các tài liệu, hồ sơ pháp lý liên quan đến việc góp vốn đầu tư dự án; (ii) Thực hiện thủ tục pháp lý: Nhà đầu tư cần thực hiện các thủ tục pháp lý liên quan đến việc góp vốn, như lập hợp đồng góp vốn, hợp đồng hợp tác kinh doanh (nếu có), và các văn bản pháp lý khác liên quan đến góp vốn đầu tư; (iii) Mở tài khoản vốn: Trong nhiều trường hợp, nhà đầu tư cần mở một tài khoản vốn tại ngân hàng hoặc cơ quan tài chính địa phương để đưa số tiền vốn vào doanh nghiệp hoặc dự án; (iv) Thực hiện các thủ tục thuế: Nhà đầu tư cần thực hiện các thủ tục thuế liên quan đến việc góp vốn và hoạt động đầu tư tại quốc gia tiếp nhận đầu tư; (v) Thẩm định và phê duyệt dự án: Đối với các dự án lớn hoặc quan trọng, có thể yêu cầu thực hiện thẩm định và phê duyệt dự án trước khi được thực hiện góp vốn đầu tư; (vi) Theo dõi và báo cáo: Sau khi góp vốn, nhà đầu tư cần theo dõi hoạt động và báo cáo tình hình đầu tư theo yêu cầu của cơ quan quản lý đầu tư. Thủ tục góp vốn của một số nước trên thế giới (Phụ lục 03. Thủ tục góp vốn của một số nước trên thế giới – Trang 164).
Thẩm quyền duyệt hồ sơ góp vốn của nhà đầu tư
Thẩm quyền duyệt hồ sơ góp vốn ở các quốc gia khác nhau sẽ do các cơ quan quản lý khác nhau điều chỉnh, tiếp nhận và chấp thuận duyệt. Thẩm quyền duyệt hồ sơ góp vốn sẽ có những tiêu chuẩn và yêu cầu riêng (Phụ lục 04 – Thẩm quyền duyệt hồ sơ góp của một số quốc gia trên thế giới – Trang 169). Ở Việt Nam, khi thực hiện thủ tục góp vốn đầu tư tại Việt Nam, nhà đầu tư cần nắm bắt được các quy định về hành lang pháp lý quản lý đầu tư theo pháp luật Việt Nam. Pháp luật Việt Nam quy định hai cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thủ tục góp vốn đầu tư hiện nay, đó là: (i) Sở kế hoạch và đầu tư: Đây là một trong những cơ quan chủ quản quản lý các dự án đầu tư tại Việt Nam. Các dự án thành lập mới, hay các dự án góp vốn đầu tư ngoài khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế sẽ thuộc thẩm quyền quản lý và phê duyệt của cơ quan này. Tại Sở kế hoạch đầu tư, chủ đầu tư cần lưu ý thực hiện thủ tục xin góp vốn được quản lý và cấp bởi 02 cấp, đó là phòng đăng ký kinh doanh và phòng kinh tế đối ngoại trực thuộc sở. (ii) Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao: phụ trách các hồ sơ góp vốn đối với các dự án nằm trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao. Bên cạnh sự quản lý trực tiếp của hai đơn vị hành chính trên, tùy thuộc vào nhu cầu và quy mô góp vốn của dự án, mà pháp luật sẽ có các quy định về cơ quan quản lý hành chính hoặc cơ quan phê duyệt thủ tục góp vốn đầu tư của chủ đầu tư phù hợp. Như vậy, so với quy trình thẩm duyệt việc góp vốn đầu tư của một số quốc gia trên thế giới, ta có thể thấy quy trình quản lý và thẩm duyệt các hồ sơ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài có phần phức tạp và khó khăn hơn, ngay cả với các hồ sơ đầu tư trong nước. Các nhà đầu tư trong nước thực hiện việc góp vốn đầu tư khá đơn giản, kể cả về hồ sơ, quy trình thủ tục và thời gian thực hiện thủ tục hành chính. Nhưng đối với các nhà đầu tư có vốn nước ngoài góp vốn đầu tư, sẽ qua các đơn vị quản lý cấp phép theo trình tự, các hoạt động báo cáo đầu tư sát sao, hồ sơ góp vốn cũng phức tạp, hồ sơ được kiểm duyệt chặt chẽ hơn, các hồ sơ nước ngoài cần được công chứng hợp pháp hóa trong khoảng thời gian có hiệu lực, và thời gian thì lâu hơn nhiều các hồ sơ góp vốn trong nước.
Đăng ký góp vốn đầu tư
Quy định về đăng ký góp vốn đầu tư thường được quy định rõ ràng trong pháp luật và các quy chế của quốc gia tiếp nhận đầu tư. Mục đích của việc đăng ký góp vốn đầu tư là để cơ quan quản lý có thể kiểm soát và giám sát việc đầu tư từ nhà đầu tư nước ngoài vào quốc gia đó, đồng thời tạo điều kiện cho việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia. Một số quy định thông thường liên quan đến việc đăng ký góp vốn đầu tư của các nước trên thế giới như: (i) Bắt buộc đăng k; (ii) Thời hạn đăng ký; (iii) Thủ tục đăng ký; (iv) Cơ quan quản lý đăng ký: quy định về cơ quan quản lý đăng ký góp vốn đầu tư, tức là cơ quan có thẩm quyền nhận và xử lý hồ sơ đăng ký; (v) Điều kiện và hạn chế đầu tư: các quy định về điều kiện và hạn chế đối với việc góp vốn đầu tư, bao gồm điều kiện tối thiểu vốn đầu tư, lĩnh vực đầu tư, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên, và các quy định khác liên quan đến đầu tư; (vi) Giấy phép đầu tư: sau khi hoàn thành đăng ký góp vốn đầu tư, nhà đầu tư có thể nhận được giấy phép đầu tư từ cơ quan quản lý đầu tư, xác nhận quyền góp vốn và hoạt động đầu tư tại quốc gia đó. Các quy định về đăng ký góp vốn đầu tư thường được thực hiện để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng và bảo vệ quyền lợi của cả nhà đầu tư và quốc gia tiếp nhận đầu tư.
Thời điểm góp vốn đầu tư
Thời điểm góp vốn đầu tư phụ thuộc vào các điều kiện và thoả thuận trong hợp đồng đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp hoặc dự án tại quốc gia tiếp nhận đầu tư. Thường thì thời điểm góp vốn đầu tư có thể xảy ra vào một trong những thời điểm sau đây: (i) Trước khi bắt đầu hoạt động kinh doanh: nhà đầu tư nước ngoài góp vốn trước khi doanh nghiệp hoặc dự án bắt đầu hoạt động kinh doanh. Góp vốn thời điểm này sẽ giúp cung cấp nguồn vốn khởi đầu và tạo điều kiện cho việc triển khai các hoạt động kinh doanh của dự án; (ii) Theo từng giai đoạn hoạt động: thay vì góp toàn bộ vốn vào thời điểm ban đầu, nhà đầu tư có thể góp vốn theo từng giai đoạn hoạt động của doanh nghiệp hoặc dự án. Điều này giúp phân phối rủi ro và nhà đầu tư có thể cân nhắc lại kế hoạch đầu tư theo lộ trình phát triển của dự án; (iii) Trong quá trình hoạt động dự án: nhà đầu tư nước ngoài có thể tiếp tục góp vốn vào doanh nghiệp hoặc dự án trong quá trình hoạt động nếu có nhu cầu mở rộng, đầu tư phát triển, hoặc tái đầu tư; (iv) Tùy thuộc vào thoả thuận của các bên: thời điểm góp vốn đầu tư cũng có thể được thỏa thuận giữa các bên dựa trên điều kiện và nhu cầu cụ thể của từng trường hợp.Việc quyết định thời điểm góp vốn đầu tư cần phải dựa vào các yếu tố kinh tế, tài chính và pháp lý, cũng như các mục tiêu đầu tư và kế hoạch phát triển của nhà đầu tư. Trong quá trình đàm phán và lập hợp đồng góp vốn, thời điểm góp vốn cụ thể sẽ được định rõ và thống nhất giữa các bên liên quan và thường sẽ được thể hiện rõ ràng trong hợp đồng. Thời hạn góp vốn đầu tư
Thời hạn góp vốn đầu tư là khoảng thời gian mà nhà đầu tư nước ngoài cam kết đưa số tiền vốn vào doanh nghiệp hoặc dự án tại quốc gia tiếp nhận đầu tư. Thời hạn này thường được quy định trong hợp đồng đầu tư hoặc quy định pháp luật của quốc gia tiếp nhận đầu tư và có thể khác nhau tùy theo tính chất và quy mô của dự án hoặc doanh nghiệp. Thời hạn góp vốn đầu tư thường được nhìn nhận ở các dạng sau: (i) Thời hạn góp vốn cụ thể: đây là thời điểm cụ thể mà nhà đầu tư cam kết đưa số tiền vốn vào doanh nghiệp hoặc dự án. Thời hạn này thường được xác định rõ trong hợp đồng đầu tư và phải được nhà đầu tư tuân thủ đúng hạn đã cam kết trong hợp đồng; (ii) Thời hạn góp vốn linh hoạt: thời gian góp vốn có thể được linh hoạt dựa trên thoả thuận giữa các bên. Các bên có thể thống nhất về việc chia nhỏ việc góp vốn thành nhiều đợt và đưa ra lịch trình cụ thể cho mỗi đợt góp vốn. Thoả thuận này dựa trên nền tảng tuân thủ quy định pháp luật quốc gia tiếp nhận đầu tư; (iii) Không quy định thời hạn góp vốn: trong một số trường hợp, không có thời hạn cụ thể cho việc góp vốn, và nhà đầu tư có thể góp vốn vào doanh nghiệp hoặc dự án trong một khoảng thời gian không giới hạn. Điều quan trọng là các điều khoản về thời hạn góp vốn phải được thỏa thuận rõ ràng và minh bạch trong hợp đồng đầu tư. Các điều khoản này dựa trên nền tảng quy định pháp luật về thời hạn góp vốn của quốc gia tiếp nhận đầu tư. Thời hạn góp vốn có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của dự án hoặc doanh nghiệp, do đó, các bên cần xem xét kỹ và thống nhất với nhau về thời hạn phù hợp nhất để đảm bảo hiệu quả đầu tư và đạt được kỳ vọng đầu tư của cả hai bên.
Chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn
Chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn là quá trình chuyển đổi quyền sở hữu của tài sản từ nhà đầu tư nước ngoài sang doanh nghiệp hoặc dự án tại quốc gia tiếp nhận đầu tư, trong việc đáp ứng các điều kiện và thỏa thuận này đã được quy định trong hợp đồng góp vốn. Việc thực hiện chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn trên thế giới có thể diễn ra theo các cách sau: (i) Chuyển quyền sở hữu tài sản vô điều kiện; (ii) Chuyển quyền sở hữu tài sản có điều kiện; (iii) Chuyển quyền sở hữu tài sản sau một khoảng thời gian nhất định.
Ghi nhận hoàn thành góp vốn
Ghi nhận hoàn thành góp vốn là quá trình ghi chép và xác nhận rằng nhà đầu tư nước ngoài đã hoàn tất việc đưa số tiền vốn cam kết vào doanh nghiệp hoặc dự án tại quốc gia tiếp nhận đầu tư theo các điều kiện và thỏa thuận đã được quy định trong hợp đồng góp vốn. Đây là bước quan trọng trong việc thực hiện đầu tư và đảm bảo tính chính xác và minh bạch trong việc ghi nhận số tiền vốn đã góp vào dự án đầu tư. Việc ghi nhận hoàn thành góp vốn có thể thông qua các quy trình sau: (i) Xác nhận việc góp vốn đầu tư; (ii) Ghi chép vào sổ sách; (iii) Cấp giấy chứng nhận hoàn thành nghĩa vụ góp vốn; (iv) Thực hiện các thủ tục pháp lý. Quá trình ghi nhận hoàn thành nghĩa vụ góp vốn của nhà đầu tư đòi hỏi tính chính xác và minh bạch để đảm bảo rằng các thông tin về vốn đầu tư được ghi chép đúng và đủ điều kiện. Điều này giúp bảo vệ quyền lợi của cả nhà đầu tư nước ngoài và quốc gia tiếp nhận đầu tư và đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ góp vốn đầu tư theo đúng quy định pháp luật của quốc gia tiếp nhận đầu tư.
Biện pháp bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài khi góp vốn đầu tư Thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế của một đất nước. Việc đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài là yếu tố then chốt trong việc giữ chân nhà đầu tư và thu hút nguồn vốn từ nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, nó thể hiện uy tín quốc gia, cho thế giới thấy được một môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng và xứng đáng đầu tư. Việc bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư khi góp vốn đầu tư vào Việt Nam được thể hiện qua rất nhiều hành lang pháp lý như Hiến pháp Việt Nam 2013 đã thể hiện việc quy định quyền bình đẳng của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động đầu tư, kinh doanh. Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài, các biện pháp bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư hay trong các văn bản dưới luật có hướng dẫn thi hành, văn bản pháp luật liên quan cũng đã thể hiện rõ việc đảm bảo quyền lợi này. Hiệp định thương mại tự do (FTA) và một số hiệp định liên quan đến bảo hộ đầu tư mà Việt Nam là thành viên như Hiệp định Bảo hộ Đầu tư giữa Liên minh châu Âu và Việt Nam (EVIPA), Hiệp định về Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tư giữa Việt Nam và Ấn Độ,… cũng đã có nội dung cam kết đến quyền lợi trên đối với nhà đầu tư nước ngoài.
Việt Nam đang nỗ lực sử dụng nhiều biện pháp khác nhau nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư khi góp vốn đầu tư vào Việt Nam. Về góc độ pháp lý, Việt Nam đang nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư, đảm bảo sự công bằng và minh bạch cho nhà đầu tư nước ngoài khi góp vốn đầu tư vào Việt Nam, khẳng định việc tuân thủ các cam kết quốc tế trong việc bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư nước ngoài. Về góc độ áp dụng biện pháp hành chính, chính phủ Việt Nam chủ động trong việc cải thiện môi trường đầu tư, tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thuận lợi trong việc góp vốn đầu tư vào Việt Nam, xây dựng các chính sách hỗ trợ nhà đầu tư nước ngoài trong quá trình thực hiện dự án, và phối hợp xử lý, giải quyết những khó khăn, vướng mắc kịp thời cho nhà đầu tư trong suốt quá trình hoạt động dự án tại Việt Nam. Về góc độ kinh tế, chính phủ có áp dụng các chính sách ưu đãi thuế, hỗ trợ tài chính cho các nhà đầu tư nước ngoài, chủ động trong việc phát triển, hoàn thiện cơ sợ hạ tầng, cơ sở kỹ thuật và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài khi góp vốn đầu tư tại Việt Nam. Chính phủ Việt Nam cũng đảm bảo hẹ thống giải quyết tranh chấp công bằng, mình bạch. Áp dụng các hệ thống giải quyết tranh chấp thông qua hệ thống toà án hoặc trọng tài. Nhà đầu tư nước ngoài có thể tự do lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp phù hợp với nguyện vọng và nhu cầu của mình, tuân theo pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Với những biện pháp bảo đảm quyền lợi đầu tư này, nhà đầu tư nước ngoài khi tham gia góp vốn sẽ có nhiều cơ sở được bảo đảm và có một môi trường đầu tư an tâm, lành mạnh, minh bạch.
2.2.3. Yêu cầu đối với pháp luật về góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài
Hệ thống pháp luật Việt Nam quy định trong việc góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư vào Việt Nam, giúp thúc đẩy nền kinh tế và cải thiện chất lượng hạ tầng, nâng cao năng lực lao động và rất nhiều lợi thế chiến lược khác. Việc đảm bảo yêu cầu đối với pháp luật về việc góp vốn của nhà đầu tư cần đạt được những tiêu chí sau: (1) Đảm bảo tiêu chí minh bạch: hệ thống pháp luật và các quy định liên quan đến việc góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài cần được công khai rộng rãi trên mọi nền tảng tiếp cận thông tin đại chúng, hay tại các trang báo điện tử của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Văn bản pháp luật cần được đảm bảo công bố dưới hình thức tiếng Việt hoặc tiếng Anh, thể hiện rõ hiệu lực của từng loại văn bản. Nhà đầu tư hoàn toàn có quyền chủ động tiếp cận, tìm hiểu và tra cứu thông tin một cách thuận tiện và chủ động nhất. (2) Đảm bảo tiêu chí công bằng: không có sự phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư với nhau khi tham gia góp vốn đầu tư vào Việt Nam. Điều này cần được thể hiện rõ ràng trong các văn bản pháp luật, thậm chí trong cách tương tác trực tiếp giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan khi giải quyết các vấn đề này. Nhà đầu tư nước ngoài được hưởng các quyền lợi và trách nhiệm như đối với nhà đầu tư trong nước, trừ các quy định đặc thù thì cần quy định rõ ràng và được công bố công khai trên cổng thông tin đại chúng. (3) Đảm bảo tiêu chí ổn định: Một hệ thống pháp luật càng ổn định, càng đảm bảo cho hoạt động kinh doanh được bền vững, niềm tin của nhà đầu tư cũng sẽ sâu sắc hơn. Chính phủ cần hạn chế tối đa trong việc thay đổi các quy định pháp luật góp vốn của nhà đầu tư, hoặc việc thay đổi cần thực hiện thật sự thận trọng, có lộ trình và thông báo rõ ràng, công khai đến các chủ đầu tư. Thậm chí, phải đảm bảo quyền lợi và được bồi thường nếu như việc thay đổi quy định pháp luật làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư và gây thiệt hại cho họ. (4) Đảm bảo được sự thuận lợi và khuyến khích đầu tư: Đây là mong muốn của nhiều nhà đầu tư nước ngoài khi góp vốn đầu tư vào Việt Nam, họ mong muốn có một quy trình, thủ tục hành chính được đơn giản hoá, thuận lợi và dễ dàng cho nhà đầu tư khi họ tham gia góp vốn. Quy trình xử lý hồ sơ, thủ tục hành chính cần được rút gọn, nhanh chóng và hiệu quả, thể hiện sự thiện chí thu hút vốn và có các quy định về khuyến khích đầu tư, xây dựng một môi trường đầu tư hấp dẫn cho nhà đầu tư nước ngoài, thông qua các chính sách ưu đãi hấp dẫn.
2.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài
Thứ nhất, chính sách pháp lý: Đây là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến hiệu quả góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài khi lựa chọn đầu tư vào Việt Nam. Nhà đầu tư sẽ nghiên cứu và cân nhắc những yếu tố này để đảm bảo việc quyết định góp vốn đầu tư tại thị trường này hay không, dựa trên việc nắm bắt các thông tin và những ưu đãi dành cho họ. Một số yếu tố có thể kể đến như: (i) Chính sách về sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài; (ii) Chính sách về chuyển giá và kiểm soát vốn; (iii) Các quy định về pháp luật lao động và môi trường; (iv) Quy định về bảo vệ quyền lợi và giải quyết tranh chấp; (v) Khu vực hỗ trợ và dịch vụ ưu tiên.
Thứ hai, môi trường đầu tư: xác định môi trường đầu tư đúng ngay từ đầu sẽ giúp nhà đầu tư nước ngoài có quyết định đúng đắn trong chiến lược góp vốn và lựa chọn đầu tư vào Việt Nam. Xét về tổng quan, môi trường đầu tư bao gồm rất nhiều yếu tố, ta có thể đánh gia ở một số góc độ sau: (i) Sự ổn định chính trị; (ii) Sự tăng trưởng kinh tế, tỷ giá ổn định, hoạt động kinh tế vĩ mô của đất nước; (iii) Sự minh bạch, rõ ràng, chính sách pháp lý mạnh mẽ và ổn định trong quy định pháp luật; (iv) Chính sách thuế và thị trường lao động; (v) Cơ sở hạ tầng, môi trường văn hóa, xã hội; (vi) Áp dụng công nghệ.
Thứ ba, thị trường và mức độ cạnh tranh của thị trường: Một thị trường có nhiều đối thủ cạnh tranh có thể sẽ gây giảm hiệu quả của việc góp vốn đầu tư của doanh nghiệp, do đã bị chiếm thị phần đầu tư. Nhưng nếu đó là thị trường có ít cạnh tranh, đây lại là lợi thế ảnh hưởng tốt đến hiệu quả góp vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài. Một số yếu tố ảnh hưởng như sau: (i) Thị phần đầu tư và cơ hội tăng trưởng thị trường; (ii) Sự ổn định của thị trường; (iii) Chính sách thị trường, các quy định về xuất nhập khẩu sản phẩm, quy định giới hạn về giá, các chính sách bảo vệ người tiêu dùng cũng là những yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả góp vốn của chủ đầu tư.
[1] Foreign Investment Law of the Republic of Montenegro (Tạm dịch: “Luật Đầu tư nước ngoài của nước Cộng hòa Montenegro”).
[2] Law on Foreign Investment of the Russian Federation (sửa đổi theo luật Liên bang từ ngày 21/03/2002) (sửa đổi lần gần nhất ngày 19.07.2011) (Tạm dịch “Luật Đầu tư nước ngoài của Liên Bang Nga”).
[3] Xem: Phụ lục 01 – Điều kiện góp vốn của một số nước trên thế giới – Trang 157.
[4] Company Act (Tạm dich “Luật Công ty”) (2006).
Tải về tại đây để xem đầy đủ tài liệu
Định dạng | Link tải |