[Tiểu luận 2021] Phân tích quy chế pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế theo Công ước Luật biển 1982 và đánh giá thực tiễn thực hiện quyền chủ quyền trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam?
Định dạng | Link tải |

Mục lục
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| NỘI DUNG | 1 |
| I. KHÁI NIỆM VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA VÙNG ĐẶC QUYỀN KINH TẾ | 1 |
| II. QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA VÙNG ĐẶC QUYỀN KINH TẾ | 2 |
| 1. Chế độ pháp lý đối với vùng đặc quyền kinh tế | 2 |
| 2. Quyền của quốc gia ven biển | 4 |
| 3. Quyền của quốc gia khác | 8 |
| III. ĐÁNH GIÁ THỰC TIỄN THỰC HIỆN QUYỀN CHỦ QUYỀN TRÊN VÙNG ĐẶC QUYỀN KINH TẾ CỦA VIỆT NAM | 9 |
Định dạng | Link tải |

Lời mở đầu
I. KHÁI NIỆM VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA VÙNG ĐẶC QUYỀN KINH TẾ
Vùng đặc quyền về kinh tế là vùng biển mở rộng của quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo, nằm bên ngoài và tiếp liền với lãnh hải. Vùng biển này có quy chế pháp lý riêng; trong đó, các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển (hay quốc gia quần đảo), các quyền cũng như các quyền tự do của các quốc gia khác được điều chỉnh theo các quy định (phần V) của Công ước Luật Biển 1982. Vùng đặc quyền về kinh tế không mở rộng quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải (Điều 57).
Theo quy định tại phần V của Công ước Luật Biển 1982, vùng đặc quyền về kinh tế là một vùng đặc thù, với chế độ pháp lý riêng biệt. Nó không phải là lãnh hải (vì nằm ngoài lãnh hải) và cũng không phải là một phần của biển cả (vì phạm vi áp dụng của phần biển cả (phần VII) của Công ước Luật Biển 1982, không áp dụng cho vùng đặc quyền về kinh tế).
Trong vùng đặc quyền về kinh tế, quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền riêng biệt của mình (quyền, quyền tài phán) nhằm mục đích kinh tế, được quy định bởi Công ước, mà không chia sẻ với các quốc gia khác. Song, đây là vùng chuyển tiếp giữa lãnh hải và biển cả, nên đồng thời là một “vùng chủ quyền giới hạn”. Nguồn gốc sự ra đời của vùng đặc quyền về kinh tế xuất phát từ nhu cầu khai thác kinh tế biển và đảm bảo an ninh trên vùng biển của các quốc gia ven biển.
Như vậy, theo quy định tại Điều 55 và 57 UNCLOS 1982: Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, đặt dưới chế độ pháp lý riêng, theo đó các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển và các quyền tự do của các quổc gia khác đều do các quy định thích hợp của Công ước điều chỉnh… Vùng đặc quyền kỉnh tế có chiều rộng không quả 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải.
Quy định trên đã làm rõ một số vấn đề sau:
Thứ nhất, về vị trí, vùng đặc quyền kinh tế nằm bên ngoài lãnh thổ của quốc gia ven biển, tiếp liền với lãnh hải, có ranh giới trong là đường biên giới quốc gia trên biển, ranh giới ngoài là một đường mà mỗi điểm trên đó cách đường cơ sở khoảng cách tối đa không quá 200 hải lý.
Thứ hai, về chiều rộng, vùng đặc quyền kinh tế có chiều rộng không quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở.
Thứ ba, trong mối quan hệ với vùng tiếp giáp lãnh hải, do vùng đặc quyền kinh tế và vùng tiếp giáp đều có ranh giới trong là đường biên giới quốc gia trên biển mà chiều rộng của vùng đặc quyền kinh tế được xác định không quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở trong khi chiều rộng của vùng tiếp giáp không quá 24 hải lý tính từ đường cơ sở, nên thực chất, vùng đặc quyền kinh tế bao trùm lên vùng tiếp giáp lãnh hải. Nói cách khác, vùng tiếp giáp lãnh hải là một bộ phận nằm trong vùng đặc quyền kinh tế. Điều này lý giải vì sạo tại vùng tiếp giáp lãnh hải, quốc gia ven biển và các quốc gia khác được hưởng đầy đủ các quy chế pháp lý mà UNCLOS 1982 quy định cho vùng đặc quyền kinh tế.
Thứ tư, chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế sẽ bao gồm cả quyền của quốc gia ven biển và quyền của quốc gia khác do Công ước quy định. Đây chính là đặc trưng, tạo nên sự khác biệt trong chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế với các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia.
Điều này xuất phát do vị trí của vùng biển này cũng như các vùng biển khác thuộc quyền chủ quyền quốc gia, mặc dù nằm bên ngoài lành thổ quốc gia ven biển nhưng cũng chưa thuộc vùng lãnh thổ quốc tế nên tại đó vừa ghi nhận quyền của quốc gia ven biển vừa ghi nhận quyền của các quốc gia khác.
II. QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA VÙNG ĐẶC QUYỀN KINH TẾ
1. Chế độ pháp lý đối với vùng đặc quyền kinh tế
Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng biển đặc thù, trong đó thể hiện sự cân bằng giữa “các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển” với “các quyền và các quyền tự do của các quốc gia khác”.
Theo quy định của Công ước luật biển 1982, trong vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển có:
– Các quyền thuộc chù quyền về việc thăm dò và khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế như việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió.
– Quyền tài phán theo đúng những quy định thích hợp của công ước về việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bi và công trình, nghiên cứu khoa học về biển, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển cũng như các quyền và nghĩa vụ khác do Công ước quy định.
Tính đặc quyền của quốc gia ven biển thể hiện trong việc quốc gia ven biển có toàn quyền đánh giá nguồn ỉiềm năng đối với các tài nguyên sinh vật, thi hành các biện pháp thích hợp về bảo tồn và quản lý nhằm làm cho việc khai thác, duy trì các nguồn lợi sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế của mình khỏi bị ảnh hưởng do khai thác quá mức. Các tổ chức quốc tế có thẩm quyền, các tổ chức phân khu vực, khu vực hay thế giới chỉ có thể tham dự vào việc duy trì các nguồn lợi sinh vật này ở mức độ “hợp tác một cách thích hợp” với quốc gia ven biển.
Tuy nhiên, đối với tài nguyên sinh vật, đặc quyền này chấp nhận ngoại lệ nếu tổng khối lượng cho phép đánh bắt lớn hơn khả năng khai thác của quốc gia ven biển, có nghĩa là tổn tại một số dư của khối lượng cho phép đánh bắt thì quốc gia ven biển lại có nghĩa vụ “tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác tối ưu các tài nguyên sinh vật của vùng đặc quyền kinh tế” mà không phương hại đến đặc quyền bảo tồn tài nguyên sinh vật của mình.
Quốc gia ven biển cho phép các quốc gia khác, thông qua các điều ước hoặc những thoả thuận liên quan, khai thác số dư của khối lượng cho phép đánh bắt này, có ưu tiên cho các quốc gia không có biển hoặc bất lại về mặt địa lý.
Để thực hiên có hiệu quả quyền chủ quyền của mình đối với tài nguyên trong vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển có quyền tài phán về lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình. Quyền tài phán này của quốc gia ven biển không chỉ mở rộng đối với các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình đặt trong cột nước trong vùng đặc quyền kinh tế mà còn đối với cả các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình đặt trên đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của vùng.
Công tác nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền kinh tế và ờ trên thềm lục địa phải được tiến hành với sự thoả thuận cùa quốc gia ven biển và không được gây trở ngại một cách phi lý cho các hoạt động do quốc gia ven biển tiến hành trong việc thi hành các quyền thuộc chủ quyền và quyền tài phán mà Công ước đã trù định.
Công ước luật biển 1982 công nhận cho quốc gia ven biển quyền tài phán về bảo vệ và gìn giữ môi trường biển chống lạí các ô nhiễm bắt nguồn từ nhiều nguồn khác nhau.
Trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển, tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển, trong những điều kiên do các quy định thích hợp cùa Công ước luật biển 1982 trù định, đều được hưởng ba quyền tự do cơ bản:
– Quyền tự do hàng hải;
– Quyền tự do hàng không;
– Quyền tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm.
2. Quyền của quốc gia ven biển
Thứ nhất, quyền chủ quyền trong việc thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý tài nguyên của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế.
Theo quy định tại Điều 56 UNCLOS 1982, trong vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với tài nguyên sinh vật và tài nguyên phi sinh vật thuộc vùng nước bên trên đáy biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển.
Tải về để xem đầy đủ tài liệu
Định dạng | Link tải |