[Luận văn 2021] Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong Luật Hôn nhân và gia đình và thực tiễn thực hiện – ThS. Nguyễn Thị Anh Thư
Định dạng | Link tải |

Định dạng | Link tải |
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Có thể thấy rằng, nền tảng của hôn nhân chính là tình yêu và sự tôn trọng lẫn nhau giữa vợ và chồng. Tình yêu là sự gắn kết giữa hai người, họ đến với nhau và cùng xây dựng tổ ấm, tạo nên một gia đình hạnh phúc. Mỗi gia đình là một “tế bào” của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng và là môi trường quan trọng để hình thành, giáo dục nhân cách của mỗi người, gia đình tốt thì xã hội mới có thể phát triển. Và một trong những nguyên tắc cơ bản để bảo vệ, duy trì hạnh phúc của gia đình đó là “Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng”.
Từ xưa, trong chế độ phong kiến của Việt Nam đã tồn tại quan niệm “trọng nam, khinh nữ – nữ giới chủ yếu làm các việc trong nhà, không được tự mình quyết định hôn nhân, không được phép tham gia những việc quan trọng trong gia đình hay xã hội. Họ không được giữ tiền bạc, tài sản, không có sự tự do, khi chưa lấy chồng thì phải phụ thuộc vào cha, khi lấy chồng thì phải phụ thuộc chống và chống mất thì phụ thuộc con (Tại gia tòng phụ – xuất giá tòng phu – phu tử tòng tử). Tư tưởng trọng nam đã ăn sâu bén rễ vào cả xã hội, vào từng gia đình trong suốt một chiều dài lịch sử như thế.
Trong thời đại ngày nay, dòng chảy thời gian đã thay đổi nhiều điều, nhiều người phụ nữ ngoài việc gìn giữ truyền thống làm dâu con, làm vợ, làm mẹ… đã vững vàng bước vào xã hội và giữ nhiều vai trò quan trọng trong tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật… Và ngày càng có nhiều người được tín nhiệm giao trọng trách ở những vị trí chủ chốt của bộ máy lãnh đạo Đảng, Nhà nước, doanh nghiệp, cơ quan đoàn thể…. Có rất nhiều phụ nữ kiếm tiền giỏi, địa vị xã hội cao nhưng vẫn không quên thiên chức của mình là làm vợ, làm mẹ. Họ biết sắp xếp thời gian, tranh thủ đi chợ, làm cơm, chăm sóc gia đình, và tranh thủ đi học thêm để nâng cao kiến thức nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội hiện đại. Họ là hiện thân của phụ nữ thời đại mới, những người phụ nữ vẹn toàn cả “công – dung – ngôn – hạnh”.
Để có được thành tựu như ngày nay, nhiều giai cấp, tầng lớp – mà lực lượng chủ yếu là chị em phụ nữ trên toàn thế giới (bao gồm cả phụ nữ Việt) đã phải đấu tranh rất kiên cường. Cùng với đó là sự sáng suốt trong từng đường lối lãnh đạo và dẫn dắt của Nhà nước, những giá trị cốt lõi trong tư tưởng của những Nhà lãnh đạo, được cụ thể hóa bằng những quy định pháp luật tại nhiều quốc gia. Tại Việt Nam, những giá trị ấy được ghi nhận và khẳng định bởi Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong Luật Hôn nhân gia đình.
Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng là một trong những nguyên tắc cơ bản của vợ chồng. Trên cơ sở đó, vợ chồng ngang nhau cả về quyền và nghĩa vụ đối với những việc phát sinh trong quan hệ vợ chồng, từ đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, bảo đảm duy trì một cách tốt nhất mối quan hệ vợ chồng. Hiểu được tính cấp thiết của vấn đề này, bản thân tác giả mong muốn được nghiên cứu thật sâu sắc ý nghĩa cũng như giá trị của “Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong Luật Hôn nhân và gia đình” và thực tiễn thực hiện.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Thực trạng vấn đề nghiên cứu
Vấn đề hoàn thiện pháp luật HN & GĐ để bảo vệ quyền lợi của những chủ thể tham gia quan hệ HN & GĐ đã có không ít những công trình dưới dạng đề tài khoa học, bài viết, tham luận về vấn đề này cụ thể như
Bài viết: Về quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình tác giả Hoa Hữu Vân đăng trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề sửa đổi, bổ sung Luật HN & GĐ năm 2020 (bài viết phân tích về quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình – bao gồm quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng và bình đẳng giữa vợ, chồng trong vấn đề này);
Bài viết: Hôn nhân cùng giới – Xu hướng thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam, của tác giả Nguyễn Thu Nam đăng trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề sửa đổi và bổ sung Luật HN & GĐ năm 2000 (Bài viết đã đề cao vấn đề quyền tự do kết hôn – một trong những quyền nhân thân của mỗi người, kết hôn là một quyền mưu cầu hạnh phúc và là một trong những quyền bình đẳng của mỗi cá nhân. Bài viết còn chỉ ra sự bình đẳng trong hôn nhân cùng giới, với từng vai trò của mỗi cá nhân trong quan hệ hôn nhân đó);
Bài viết: Vấn đề cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính của tác giả Bùi Thị Mừng, đăng trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề sửa đổi và bổ sung Luật HN & GĐ năm 2000 (bài viết chỉ ra vấn đề kết hôn đồng giới khi bị cấm đã ngăn cản quyền mưu cầu hạnh phúc của mỗi cá nhân như thế nào, về bình đẳng trong hôn nhân đã thực sự được nhìn nhận đúng đắn hay chua);
Bài viết: Sửa đổi luật HN & GĐ, một số vấn đề cần giải quyết của tác giả Nguyễn Mạnh Hà, Trường Đại học Luật Hà Nội đăng trên trang Web: http://www.moj.gov.vn;
Bài viết: Sửa đổi, bổ sung luật HN & GĐ – Chú trọng quyền lợi của phụ nữ của tác giả Phạm Mạnh Hà đăng trên địa chỉ trang web: congly.com.vn/phap-luat/dien-dan-cong-ly;
Xác định cha, mẹ, con dưới góc độ Bình Đẳng Giới – Ths Nguyễn Thị Lan đăng trên địa chỉ http://thongtinphapluatdansu.edu.vn.
Luận văn thạc sĩ Luật học – Khoa Luật ĐHQG Hà Nội: “Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng theo Luật hôn nhân gia đình Việt Nam” của tác giả Trần Thị Mai Hương.
Bài viết: “Chế định tài sản của vợ chồng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình” của tác giả Đoàn Ngọc Hải đăng trên địa chỉ https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/che-dinh-tai-san-cua-vo-chong-theo- quy-dinh-cua-phap-luat-hon-nhan-va-gia-dinh
Bài viết: “Một số vấn đề về bảo vệ quyền của phụ nữ khi ly hôn ở Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Bích Phượng đăng trên địa chỉ http://hocvientoaan.edu.vn.
Những công trình nghiên cứu trên đã góp phần bổ sung và hoàn thiện những luận cứ vô cùng quan trọng và đưa ra những kiến nghị, đề xuất xác đáng cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật HN & GĐ, bảo vệ quyền lợi của các thành viên tham gia quan hệ HN & GĐ. Tác giả nghiên cứu luận văn mong muốn tìm hiểu sâu hơn vấn đề nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong pháp luật HN & GD với mục đích đánh giá những giá trị tiến bộ đạt được trong thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền mà trực tiếp là quyền bình đẳng giữa các cá nhân trong lĩnh vực HN & GĐ. Đi sâu nghiên cứu những vấn đề còn bị bỏ ngỏ, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật HN & GĐ vào trực tiếp cuộc sống trong thời gian tới.
3. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
* Mục đích nghiên cứu
Nhằm làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong Luật hôn nhân và gia đình, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng, từ đó phát hiện những bất cập, hạn chế còn tồn tại trong quá trình áp dụng những quy định của pháp luật. Sau cùng đưa ra một số kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong Luật hôn nhân gia đình ở Việt Nam.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:
Thứ nhất, khái quát được quy định của pháp luật về nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong Luật HNGĐ 2014 và nêu được Tầm quan trọng của nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong Luật HN & GĐ 2014.
Thứ hai, phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật hiện hành về nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong quan hệ gia đình, trong đó cụ thể là bình đẳng vợ chồng trong quyền và nghĩa vụ về nhân thân, bình đẳng về đại diện giữa vợ và chồng, bình đẳng về chế độ tài sản giữa vợ chồng.
Thứ ba, nhìn nhận thực tiễn thực hiện và đánh giá dưới góc nhìn cá nhân các quy định của pháp luật liên quan đến “Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong Luật Hôn nhân và gia đình”, đóng góp một số giải pháp nhằm tăng cường đảm bảo thực hiện nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong Luật hôn nhân và gia đình.
4. ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
* Đối tượng nghiên cứu
– Một số vấn đề lý luận về nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong Luật HN & GĐ 2014.
– Các quy định của Pháp luật về Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng theo Luật hôn nhân và gia đình.
– Vấn để vận dụng những quy định của pháp luật hiện hành về Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng theo luật hôn nhân và gia đình (thực tiễn thực hiện).
* Phạm vi nghiên cứu
Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng theo Luật hôn nhân và gia đình được hiểu là bình đẳng vợ chồng trong quyền và nghĩa vụ về nhân thân, bình đẳng về đại diện giữa vợ và chồng, bình đẳng về quyền sở hữu tài sản giữa vợ chồng và nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong việc chăm sóc nuôi dưỡng con cái.
Do đó, trong phạm vi nghiên cứu đề tài của luận văn, tác giả tập trung đi sâu và phân tích quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng qua quyền và nghĩa vụ nhân thân và các quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ và chồng.
Về thực tiễn thực hiện, tác giả nghiên cứu việc thực hiện, vận dụng nguyên tắc vợ chồng bình đẳng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 trên thực tế tại nhiều địa phương ở toàn quốc từ khi Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực.
5. CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
– Việc nghiên cứu những nội dung của đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin với phép duy vật lịch sử và duy vật biện chứng, gắn với thực tiễn Việt Nam, trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và Pháp Luật nói chung và trong lĩnh vực pháp luật Hôn nhân và gia đình nói riêng.
– Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể phân tích, tổng hợp, phương pháp thống kê để nghiên cứu đề tài.
6. Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Không phải ngẫu nhiên mà Luật HN & GĐ đề cập đến vấn đề bình đẳng đầu tiên trong nội dung viết về quyền và nghĩa vụ về nhân thân trong quan hệ giữa vợ và chồng bởi bình đẳng chính là điều kiện quan trọng nhất để hai cá nhân quyết định cùng chung sống và xây dựng một gia đình. Khác với quan hệ vợ chồng trong các chế độ xã hội xưa, người vợ thường chấp nhận phục tùng người chồng, ít khi được tham gia vào những quyết định quan trọng. Ngày nay, bình đẳng là thước đo sự phát triển của xã hội, là một giá trị mới nhân văn của gia đình hiện đại, là tiêu chí đánh giá một gia đình hạnh phúc. Việc nhấn mạnh quyền bình đẳng trong quan hệ vợ chồng là hướng đến bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ vốn đã hàng trăm năm nay luôn bị quan niệm là hậu phương, là “ngồi xó bếp”, là “lấy chồng phải theo chồng”.
Việc thực hiện bình đẳng được thể hiện trong mọi khía cạnh của đời sống hôn nhân như cùng chia sẻ công việc gia đình, chăm sóc con cái, được thỏa mãn những nhu cầu cá nhân như giải trí, học tập, tham gia hoạt động xã hội, cộng đồng, được bàn bạc, trao đổi, tham gia vào quá trình ra quyết định trong gia đình cũng như bình đẳng, tôn trọng trong đời sống tình dục hay kế hoạch hóa gia đình
Cho dù vậy, cũng rất khó xác định cách đảm bảo sự bình đẳng trong mọi hoạt động giữa vợ và chồng vì không giống như những quy định trong xã hội có tiêu chí đánh giá cụ thể, trong gia đình, hầu hết mọi hoạt động đều được phân công thực hiện theo những chuẩn mực, cách thức có từ nhiều thế hệ và mỗi cá nhân đều chịu những áp lực nhất định với vai trò của mình khi làm vợ làm chồng. Do vậy, đôi khi tồn tại xung đột giữa mong muốn của cặp vợ chồng với mong muốn từ phía những thành viên khác (đặc biệt là cha mẹ), giữa những chuẩn mực ứng xử truyền thống và hiện đại.
Đặc thù mối quan hệ giữa vợ chồng là xuất phát từ tình yêu, từ những cảm xúc, mong muốn, quy ước riêng tư nên sự bình đẳng không phải được thực hiện một cách cứng nhắc, cào bằng mà cần có sự linh hoạt, mềm dẻo, dựa trên năng lực, sở trường của vợ và chồng. Có như vậy bình đẳng mới được thực hiện một cách tự giác và bền vững trong mỗi gia đình
Đề tài nghiên cứu đã phần nào làm rõ được tính ứng dụng của các quy định pháp luật về Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng theo Luật Hôn nhân và gia đình, từ đó đưa ra ý kiến cá nhân để có thể hoàn thiện hơn hệ thống Pháp luật.
7. CƠ CẤU LUẬN VĂN
Chương 1: Khái quát chung về nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong Luật HN & GĐ
Chương 2: Thực trạng pháp luật về nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong quan hệ hôn nhân và gia đình
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật và một số giải pháp tăng cường đảm bảo nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong quan hệ hôn nhân và gia đình ở Việt Nam hiện nay.
Định dạng | Link tải |