[Luận văn 2024] Nghĩa vụ cấp dưỡng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam – ThS. Nguyễn Thị Hồng Thúy
Định dạng | Link tải |

Mục lục
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| LỜI CAM ĐOAN | |
| DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT | |
| MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Tính cấp thiết đề tài nghiên cứu | 1 |
| 2. Tình hình nghiên cứu đề tài | 2 |
| 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu | 6 |
| 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu | 6 |
| 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài | 7 |
| 6. Tính mới và những đóng góp của đề tài | 7 |
| 7. Kết cấu của đề tài | 7 |
| CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHĨA VỤ CẤP DƯỠNG | 8 |
| 1.1. Khái niệm và đặc điểm của nghĩa vụ cấp dưỡng | 8 |
| 1.1.1. Khái niệm nghĩa vụ cấp dưỡng | 8 |
| 1.1.2. Đặc điểm của nghĩa vụ cấp dưỡng | 10 |
| 1.2. Sự cần thiết phải đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình | 13 |
| 1.3. Sơ lược lịch sử pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình | 15 |
| * Nghĩa vụ cấp dưỡng trong pháp luật Việt Nam từ năm 1959 đến năm 1986 | 20 |
| * Nghĩa vụ cấp dưỡng trong pháp luật Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2000 | 24 |
| * Nghĩa vụ cấp dưỡng trong pháp luật Việt Nam từ năm 2000 đến nay | 26 |
| Tiểu kết Chương 1 | 29 |
| CHƯƠNG 2: NGHĨA VỤ CẤP DƯỠNG THEO PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM | 31 |
| 2.1. Điều kiện phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng | 31 |
| 2.1.1. Người cấp dưỡng và người được cấp dưỡng phải có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng | 31 |
| 2.1.2. Người cấp dưỡng phải là người đã thành niên và có khả năng cấp dưỡng | 33 |
| 2.1.3. Người được cấp dưỡng là người chưa thành niên, người đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, người có khó khăn túng thiếu theo quy định của pháp luật | 36 |
| 2.2. Mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng | 43 |
| 2.2.1. Mức cấp dưỡng | 43 |
| 2.2.2. Phương thức cấp dưỡng | 44 |
| 2.2.3. Thay đổi mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng | 46 |
| 2.2.4. Thời điểm cấp dưỡng | 48 |
| 2.3. Các trường hợp cấp dưỡng | 56 |
| 2.3.1. Cấp dưỡng giữa cha mẹ và con | 56 |
| 2.3.2. Cấp dưỡng giữa anh chị em ruột với nhau | 60 |
| 2.3.3. Cấp dưỡng giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu | 61 |
| 2.3.4. Cấp dưỡng giữa cô, dì, chú, bác, ruột và cháu | 62 |
| 2.3.5. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn | 64 |
| 2.4. Chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng | 68 |
| 2.5. Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng | 70 |
| 2.5.1. Buộc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng | 70 |
| 2.5.2. Biện pháp chế tài về hành chính và hình sự khi trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng | 70 |
| Tiểu kết chương 2 | 72 |
| CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN NGHĨA VỤ CẤP DƯỠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CẤP DƯỠNG | 73 |
| 3.1. Thực tiễn thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng | 73 |
| 3.1.1. Kết quả đạt được | 73 |
| 3.1.2. Khó khăn, vướng mắc | 74 |
| 3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về cấp dưỡng | 80 |
| 3.2.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật | 80 |
| 3.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về cấp dưỡng | 81 |
| Tiểu kết chương 3 | 87 |
| KẾT LUẬN | 88 |
| TÀI LIỆU THAM KHẢO | 89 |
Định dạng | Link tải |
Tình hình nghiên cứu đề tài
Quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài tác giả nhận thấy một số đề tài có liên quan đến luận văn, cụ thể như sau:
– Nguyễn Viết Thái (năm 2013), “Hậu quả pháp lý của ly hôn theo Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000”, Luận văn thạc sĩ Luật học [26]. Luận văn đã tìm hiểu những vấn đề lý luận cơ bản về ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn. Tiếp cận một cách có hệ thống và toàn diện những quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, tập trung vào Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, liên quan đến hậu quả pháp lý của ly hôn, là mục tiêu quan trọng của nghiên cứu này. Bằng việc khám phá các lý luận và quy định pháp luật cũng như điều tra thực tế về cách thức áp dụng luật ly hôn để giải quyết hậu quả của ly hôn tại Việt Nam, luận văn mạnh dạn đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hậu quả pháp lý của ly hôn trong nước. Điều quan trọng đầu tiên là tiến hành tìm hiểu đầy đủ và kỹ lưỡng những quy định của pháp luật liên quan đến ly hôn và hậu quả pháp lý của nó tại Việt Nam, đặc biệt là tập trung vào Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Nghiên cứu này sẽ tập trung vào các điểm mấu chốt và cơ sở lý luận của luật, để có cái nhìn tổng quan về khung pháp lý hiện tại liên quan đến ly hôn. Từ những kiến thức đã thu thập được, luận văn sẽ phân tích và đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về ly hôn ở Việt Nam. Điều này bao gồm việc nghiên cứu các vụ án ly hôn đã diễn ra, cách thức giải quyết hậu quả pháp lý của ly hôn và những thách thức mà người dân gặp phải trong quá trình thực hiện quy định pháp luật này.
– Lê Thanh Hương (năm 2008), “Quan hệ cấp dưỡng trong Luật HN&GĐ hiện hành”, Luận văn tốt nghiệp [11]. Luận văn đã tiến hành một cuộc khám phá sâu sắc về các quy định liên quan đến nghĩa vụ cấp dưỡng trong pháp luật Hôn nhân và Gia đình. Dựa trên nền tảng kiến thức thu thập được, nghiên cứu đã tập trung đào sâu và đề xuất những giải pháp sáng tạo để hoàn thiện và áp dụng hiệu quả vấn đề này trong thực tế.
– Bài báo: Một số bất cập trong quy định về cấp dưỡng và kiến nghị hoàn thiện của các tác giả: Nguyễn Văn Phúc & Nguyễn Hoàng Bá Huy (Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh) được đăng trên website: https://tapchitoaan.vn/mot- so-bat-cap-trong-quy-dinh-ve-cap-duong-va-kien-nghi-hoan-thien7224.html [34]. Nghĩa vụ cấp dưỡng đối với người được cấp dưỡng không chỉ thể hiện sự trách nhiệm của người cấp dưỡng mà còn là một biểu tượng của tình thương và quan tâm từ phía Nhà nước đối với những người yếu thế. Tuy nhiên, quy định về cấp dưỡng đã được nghiên cứu bởi nhiều học giả, nhưng vẫn chưa được thống nhất và bao quát đủ. Do đó, việc hiểu và áp dụng pháp luật có sự khác biệt dẫn đến ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của người được cấp dưỡng. Thực tế cũng cho thấy việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con cái của cha mẹ vẫn còn nhiều hạn chế. Bài viết này sẽ phân tích một số điểm bất cập trong quy định về cấp dưỡng và đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định này.
– Trần Phương Mai (2018), “Cấp dưỡng theo quy định của pháp luật Việt Nam và thực tiễn thi hành”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội [12]. Luận văn đã tiến hành nghiên cứu các quy định về Cấp dưỡng theo quy định pháp Luật Việt Nam. Trên cơ sở các quy định đó, quá trình áp dụng trong thực tế sẽ tạo ra những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện và đảm bảo cho quá trình thực hiện trong thực tế.
– Đào Thị Thuý Hằng (2020), “Cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội. Tác giả tập trung nghiên cứu vấn đề cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình với nhau. Đồng thời, chỉ rõ những khó khăn, hạn chế và giải pháp hoàn thiện vấn đề này [10].
– Nguyễn Thu Hương, Nguyễn Hồng Nhung (2022), “Bàn về thời điểm bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con trong trường hợp Tòa án xác định cha cho con”, Tạp chí Tòa án Nhân dân, https://tapchitoaan.vn/ban-ve- thoi-diem-bat-dau-thuc-hien-nghia-vu-cap-duong-nuoi-con-trong-truong-hop-toa-an-xac-dinh-cha-cho-con6760.html [32].
Trong thực tế xét xử, việc xác định thời điểm bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng có nhiều quan điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng thời điểm bắt đầu nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên là ngày đứa trẻ chào đời. Quan điểm thứ hai cho rằng thời điểm này là từ ngày bản án hoặc quyết định của Tòa án xác định cha cho con có hiệu lực pháp luật. Quan điểm thứ ba cho rằng thời điểm bắt đầu là từ ngày Tòa án tuyên án sơ thẩm xác định cha cho con. Tác giả của bài viết ủng hộ quan điểm thứ nhất. Tuy nhiên, từ góc độ pháp lý, quan điểm thứ ba được coi là phù hợp hơn. Lý do là trước khi có bản án hay quyết định của Tòa án xác định cha cho con, chưa có căn cứ pháp lý xác định chính xác ai là cha của đứa trẻ. Vì thế, chưa có sự phát sinh các quyền và nghĩa vụ của người cha như quy định tại Điều 69 Luật Hôn nhân và Gia đình, chẳng hạn như quyền giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật Dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự; quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình… Do vậy, chưa thể hình thành mối quan hệ cha – con về mặt pháp lý. Trong tình huống này, để bảo vệ quyền lợi của mình và quyền lợi của người con chưa thành niên, người mẹ nên tự chủ động yêu cầu Tòa án xác định cha cho con một cách nhanh chóng và kịp thời.
Dưới dạng tài liệu chuyên khảo về Hôn nhân và Gia đình, nhóm tác phẩm đáng kể phải đề cập đến:
“Giáo trình Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam” (Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2008)
“Giáo trình Kỹ năng giải quyết vụ việc dân sự” (Học viện Tư pháp, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2007)
“Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam” (Nguyễn Ngọc Điện, Nhà xuất bản Trẻ, 2004)
“Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam” (Nguyễn Văn Cừ, Nhà xuất bản Tư pháp, 2008)
“Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000” (Tác giả Nguyễn Văn Cừ – Ngô Thị Hường, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội, 2002)
Những tác phẩm này không chỉ cung cấp kiến thức chuyên môn về Luật Hôn nhân và Gia đình của Việt Nam mà còn chứa đựng các phân tích sâu sắc về các khía cạnh lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực này. Các tác giả đã đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu và truyền đạt kiến thức về Hôn nhân và Gia đình, giúp độc giả hiểu rõ hơn về các quy định và vấn đề pháp lý liên quan đến lĩnh vực này.
Trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các công trình đã được công bố trước đó, luận văn đi sâu vào nghiên cứu vấn đề liên quan đến cấp dưỡng từ thực tiễn xét xử tại Việt Nam.
Tải về tại đây để xem đầy đủ tài liệu
Định dạng | Link tải |