[Luận văn 2019] Hoàn thiện pháp luật về đại diện lao động phù hợp với tiêu chuẩn của Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương – ThS. Lê Vân Anh
Định dạng | Link tải |

Định dạng | Link tải |
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), là một hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, gồm 11 nước thành viên là Ốt-xtrây-li-a, Bru-nây, Ca-na-đa, Chi-lê, Nhật Bản, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Niu-Di-lân, Pê-ru, Xinh-ga-po và Việt Nam.
Hiệp định đã được ký kết ngày 08 tháng 3 năm 2018 tại thành phố San – ti-a-gô, Chi-lê, và chính thức có hiệu lực từ ngày 30/12/2018 đối với nhóm 6 nước đầu tiên hoàn tất thủ tục phê chuẩn Hiệp định gồm Mê-hi-cô, Nhật Bản, Xinh-ga-po, Niu Di-lân, Ca-na-đa và Ốt-xtrây-lia. Đối với Việt Nam, Hiệp định có hiệu lực từ ngày 14/01/2019.
CPTPP gồm 07 Điều và 01 Phụ lục quy định về mối quan hệ với Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã được 12 nước gồm Ốt-xtrây-lia, Bru-nây, Đa-rút-xa-lam, Ca-na-đa, Chi-lê, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Niu Di-lân, Pê-ru, Xinh-ga-po và Việt Nam kỳ ngày 06 tháng 2 năm 2016 tại Niu Di-lân, cũng như xử lý các vấn đề khác liên quan đến tính hiệu lực, rút khỏi hay gia nhập CPTPP.
Theo đó, về cơ bản, CPTPP giữ nguyên nội dung của TPP nhưng cho phép các nước thành viên tạm hoãn 20 nhóm nghĩa vụ (gồm 11 nghĩa vụ liên quan tới Chương Sở hữu trí tuệ, 2 nghĩa vụ liên quan đến Chương Mua sắm của Chính phủ và 7 nghĩa vụ còn lại liên quan tới 7 Chương là Quản lý hải quan và Tạo thuận lợi Thương mại, Đầu tư, Thương mại dịch vụ xuyên biên giới, Dịch vụ Tài chính, Viễn thông, Môi trường, Minh bạch hóa và Chống tham nhũng) để bảo đảm sự cân bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của các nước thành viên trong bối cảnh Hoa Kỳ rút khỏi TPP.
Về cơ bản, CPTPP không đưa ra tiêu chuẩn riêng về lao động mà chỉ khẳng định lại các tiêu chuẩn lao động được nêu trong Tuyên bố năm 1998 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về Những nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động mà tất cả các nước thành viên tham gia CPTPP đều có nghĩa vụ tôn trọng, thúc đẩy và thực thi với tư cách thành viên ILO, thể hiện trong 8 Công ước cơ bản, bao gồm các nội dung: (1) Quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động và người sử dụng lao động (theo Công ước số 87 và số 98[1]); (2) Xóa bỏ lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc (theo Công ước số 29 và số 105); (3) Cẩm sử dụng lao động trẻ em, xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (theo Công ước số 138 và số 182); (4) Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp (theo Công ước số 100 và số 111). Những cam kết trong Hiệp định nêu trên đồng thời cũng là những cam kết của Việt Nam trong khuôn khổ Liên Hợp Quốc[2] và là nghĩa vụ quốc gia thành viên của ILO[3].
Để thực thi các cam kết quốc tế, Việt Nam đã và đang thường xuyên rà soát để sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật của mình, bảo đảm ngày càng phù hợp hơn với tiêu chuẩn và thực tiễn pháp lý quốc tế, trong đó, so với các cam kết tại CPTPP thi pháp luật Việt Nam hiện nay chưa đảm bảo sự tương thích Pháp luật Việt Nam mới chỉ thừa nhận quyền tự do thành lập tổ chức đại diện lao động thông qua việc thành lập tổ chức công đoàn – tổ chức duy nhất đại diện và bảo vệ quyền lợi cho người lao động Việt Nam mà chưa thừa nhận quyền của người lao động được tự do thành lập và gia nhập tổ chức đại diện lao động khác ngoài công đoàn thuộc hệ thống của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
Trong điều kiện CPTPP đã có hiệu lực với Việt Nam[4] và theo cơ chế đảm bảo thực thi cam kết của CPTPP thì Hiệp định đã đưa ra nhiều cơ chế kiểm soát việc thực thi của các thành viên, trong đó, bên cạnh cơ chế chung về thành lập Hội đồng Đối tác xuyên Thái Bình Dương nhằm xem xét tất cả các vấn đề liên quan đến việc thực thi và vận hành Hiệp định và cơ chế giải quyết tranh chấp cấp Nhà nước thì tại chương Lao động của CPTPP cũng có hình thức bảo đảm thực thi riêng (trường hợp Việt Nam không thực hiện các cam kết của mình trong chương Lao động, các nước tham gia CPTPP có quyền kiện Việt Nam theo thủ tục giải quyết tranh chấp tại Chương Lao động – Hội đồng Lao động của CPTPP và sau đó là theo thủ tục giải quyết tranh chấp cấp Nhà nước trong CPTPP; ngoài ra, Việt Nam còn có các cam kết với các đối tác trong CPTPP tại các Thư song phương). Theo đó, yêu cầu thực thi các cam kết của CPTPP là bắt buộc và nếu vi phạm sẽ có chế tài xử phạt.
Xuất phát từ yêu cầu cấp bách nêu trên, tác giả chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật về đại diện lao động phù hợp với tiêu chuẩn của Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình với hy vọng sẽ góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, từ đó đưa ra các đề xuất sửa đổi, bổ sung pháp luật Việt Nam về đại diện lao động cũng như các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đại diện lao động để Việt Nam thực hiện đầy đủ cam kết về đại diện lao động trong CPTPP đồng thời cũng để đại diện lao động thực sự phát huy được vai trò của mình trong việc đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể nói, đại diện lao động là vấn đề cốt lõi, quan trọng nhất của quan hệ lao động, việc hình thành đại diện lao động là điều kiện để hình thành việc thương lượng, tiến hành thương lượng tập thể nhằm xác lập các tiêu chuẩn, điều kiện lao động cũng như giải quyết các vấn đề phát sinh trong quan hệ lao động. Do đó, đã có nhiều bài viết, công trình quan trọng có giá trị cao trong khoa học pháp lý nghiên cứu về cơ sở lý luận cũng như thực tiễn về đại diện lao động, nhất là từ thời điểm Việt Nam bắt đầu đàm phán gia nhập TPP và bắt tay vào tiến trình sửa đổi Bộ luật Lao động năm 2012. Tiêu biểu có thể kể đến như:
– Sách chuyên khảo: “Đại diện lao động và pháp luật về đại diện lao động – Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam”. Nxb Tư pháp, 2015.
Cuốn sách đã trình bày những vấn đề lý luận về đại diện lao động và pháp luật về đại diện lao động Phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về đại diện lao động, từ đó đưa ra hướng hoàn thiện pháp luật về vấn đề nảy ở nước ta hiện nay.
– Luận án tiến sĩ luật học: Đào Mộng Điệp, 2014, “Pháp luật về đại diện lao động ở Việt Nam – thực trạng và hướng hoàn thiện”.
Luận án đã phân tích những vấn đề lý luận về đại diện lao động và pháp luật về đại diện lao động, trên cơ sở đó tác giả đưa ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trên cả hai khía cạnh điều chỉnh pháp luật và áp dụng pháp luật để tổ chức đại diện lao động thực hiện đầy đủ, hiệu quả chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động.
– Luận văn thạc sĩ luật học: Nguyễn Thị Tú, 2015, “Pháp luật về đại diện lao động ở Việt Nam”.
Luận văn đã trình bày những vấn đề lý luận về đại diện lao động Phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về đại diện lao động. Đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
– Luận văn thạc sĩ luật học: Phạm Ngọc Lãnh, 2018, “Pháp luật về bảo vệ người lao động trong doanh nghiệp của tổ chức công đoàn”.
Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận pháp luật điều chỉnh về bảo vệ người lao động trong doanh nghiệp của tổ chức công đoàn và đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo vệ người lao động của tổ chức công đoàn, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ người lao động trong doanh nghiệp của tổ chức công đoàn ở Việt Nam hiện nay.
– Nhiều bài viết trên các Tạp chí như:
+ “Hoàn thiện pháp luật về quyền tự do thành lập tổ chức đại diện của người lao động” của Trần Thị Mai Loan đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 03/2017.
Bài viết đã phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về quyền tự do thành lập công đoàn, qua đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật cho phù hợp với xu thế quốc tế và nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức đại diện cho người lao động.
+ “Quyền tự do thành lập tổ chức đại diện của người lao động theo TPP và yêu cầu hoàn thiện pháp luật” của Lê Thị Hoài Thu đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1 + 2/2017.
Bài viết đã phân tích các nguyên tắc đảm bảo quyền tự do thành lập tổ chức đại diện (quyền tự do công đoàn) của người lao động trong Bản Kế hoạch hành động Việt Nam – Hoa Kỳ nhằm triển khai Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Nêu các điều kiện và phương hướng hoàn thiện pháp luật nhằm thực thi hiệu quả quyền tự do công đoàn của người lao động theo TPP.
+ “Tác động của việc thực hiện quyền tự do thành lập tổ chức đại diện của người lao động theo Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)” của Phạm Công Bảy đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân tối cao, số 17 và số 18/2016.
Bài viết đã nêu tác động của việc thực hiện quyền tự do thành lập tổ chức đại diện của người lao động theo Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) thể hiện ở sự làm thay đổi tư duy về quyền tự do liên kết, thay đổi thành phần chủ thể trong quan hệ lao động, thay đổi cơ chế tương tác giữa các bên trong quan hệ lao động, đồng thời tạo ra thế cạnh tranh giữa các tổ chức đại diện, góp phần thúc đẩy quan hệ lao động.
+ “Hoàn thiện pháp luật lao động nhằm thực hiện cam kết trong Hiệp định TPP về quyền tự do lập hội của người lao động” của Trần Thị Thúy Lâm đăng trên Tạp chí Luật học, số 12/2016.
Trên cơ sở phân tích quyền tự do thành lập tổ chức đại diện (quyền tự do lập hội) của người lao động theo TPP, bài viết đã đánh giá sự tương thích của pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền tự do thành lập tổ chức đại diện của người lao động so với TPP, trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền tự do thành lập tổ chức đại diện của người lao động theo TPP.
+ “Vai trò của các tổ chức đại diện người lao động trong doanh nghiệp theo pháp luật một số nước thành viên TPP và gợi mở cho Việt Nam” của Hoàng Kim Khuyên đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 10/2016.
Bài viết đã thông tin về vai trò của các tổ chức đại diện người lao động trong các doanh nghiệp của một số nước thành viên TPP, qua đó đưa ra một số gợi mở có giá trị tham khảo đối với Việt Nam.
Qua nghiên cứu có thể thấy rằng, các công trình tiêu biểu trên đây đã tạo dựng nên hệ thống cơ sở lý luận về vấn đề đại diện lao động và đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật nói chung về vấn đề đại diện lao động, phân tích các tiêu chuẩn của TPP về quyền tự do thành lập tổ chức đại diện lao động, đánh giá sự tương thích của tiêu chuẩn về quyền tự do thành lập tổ chức đại diện lao động với pháp luật Việt Nam và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền tự do thành lập tổ chức đại diện lao động phù hợp với cam kết trong TPP.
Mặc dù, về cơ bản, các cam kết lao động của TPP và CPTPP không có sự khác biệt, tuy nhiên, bên cạnh vấn đề về quyền tự do thành lập tổ chức đại diện lao động thì CPTPP, cụ thể là ILO còn đặt ra các tiêu chuẩn về đại diện lao động trên các khía cạnh khác (như đảm bảo quyền tự quản của các tổ chức đại diện lao động, đảm bảo quyền tự chủ trong việc nhận đại diện lao động trong các đơn vị không có tổ chức đại diện lao động, đảm bảo tính đại diện trong việc lựa chọn đại diện lao động, ngăn chặn việc can thiệp của giới chủ và các chủ thể khác vào hoạt động của tổ chức đại diện lao động) – những khía cạnh khác đó chưa được phân tích cụ thể, đánh giá sự tương thích để để xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam về đại diện lao động phù hợp, đầy đủ với tiêu chuẩn của CPTPP Bên cạnh việc nghiên cứu, đánh gia để hoàn thiện pháp luật về nội dung, các công trình cũng chưa có đánh giá tổng thể về hình thức pháp luật để thực hiện cam kết của Việt Nam cũng như đề xuất các giải pháp tổng thể để không chỉ dừng lại ở việc “nội luật hóa” các cam kết mà còn để các cam kết đó sau khi được quy định tại pháp luật Việt Nam thì thực sự có “sức sống”, có tính khả thi cao.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ về vấn đề “Hoàn thiện pháp luật về đại diện lao động phù hợp với tiêu chuẩn của CPTPP” là việc làm mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
– Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận về đại diện lao động, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam trong tương quan so sánh với quy định của CPTPP về đại diện lao động, mục đích để đề xuất việc hoàn thiện pháp luật về nội dung và hình thức, đồng thời, đề xuất các giải pháp phù hợp để thực hiện có hiệu quả pháp luật về đại diện lao động, qua đó góp phần đảm bảo Việt Nam thực hiện đầy đủ các cam kết tại CPTPP về đại diện lao động, là tiền đề quan trọng để Việt Nam hội nhập ngày càng sâu, rộng hơn trong quá trình toàn cầu hóa.
– Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ cụ thể sau:
Một là, luận văn phân tích một số vấn đề lý luận về đại diện lao động và pháp luật về đại diện lao động.
Hai là, luận văn phân tích các tiêu chuẩn của CPTPP về đại diện lao động và đánh giá sự tương thích với pháp luật Việt Nam.
Ba là, luận văn phân tích các điều kiện đảm bảo thực hiện hiệu quả các cam kết về đại diện lao động trong CPTPP; để xuất sửa đổi, bổ sung pháp luật Việt Nam về đại diện lao động và xây dựng các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đại diện lao động.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các quan điểm, tiêu chuẩn của ILO, quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề đại diện lao động.
– Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn được xác định như sau:
Thứ nhất, đối với một số vấn đề lý luận về đại diện lao động, luận văn phân tích khái niệm, vị trí, vai trò của đại diện lao động, trình bày các hình thức thực hiện quyền đại diện lao động, đối với vấn đề lý luận pháp luật về đại diện lao động, luận văn phân tích khái niệm, nội dung và nêu ý nghĩa của việc điều chỉnh pháp luật về đại diện lao động
Thứ hai, đối với việc phân tích và đánh giá sự tương thích của các tiêu chuẩn của CPTPP về đại diện lao động với pháp luật Việt Nam, luận văn phân tích trên cơ sở so sánh giữa quy định của ILO (chủ yếu tại Công ước số 87 và Công ước số 98) và quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành (chủ yếu tại Bộ luật Lao động năm 2012 và Luật Công đoàn năm 2012).
Thứ ba, đối với việc đề xuất sửa đổi, bổ sung pháp luật Việt Nam, luận văn đề xuất về cả nội dung và hình thức pháp luật
Thứ tư, đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đại diện lao động trong thời điểm hiện nay khi CPTPP đã có hiệu lực với Việt Nam, pháp luật Việt Nam về đại diện lao động đang trong tiến trình sửa đổi, bổ sung (việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động năm 2012 chưa được thông qua, việc sửa đổi, bổ sung Luật Công đoàn năm 2012 đang trong giai đoạn lập đề nghị).
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quán triệt đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta về hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế. Các phương pháp cụ thể bao gồm phương pháp thu thập, phân tích, liệt kê, tổng hợp tài liệu, phương pháp diễn giải, quy nạp và phương pháp so sánh.
6. Những đóng góp mới của Luận văn
– Làm sâu sắc hơn một số vấn đề lý luận về đại diện lao động, pháp luật về đại diện lao động, trong đó làm rõ khái niệm, vị trí, vai trò của đại diện lao động, các hình thức thực hiện quyền đại diện lao động, khái niệm, nội dung pháp luật về đại diện lao động và ý nghĩa của việc điều chỉnh pháp luật về đại diện lao động.
– Phân tích các tiêu chuẩn của CPTPP, cụ thể là của ILO về đại diện lao động trên 05 khía cạnh về: (i) đảm bảo quyền tự do thành lập, gia nhập các tổ chức đại diện lao động; (ii) đảm bảo quyền tự quản của các tổ chức đại diện lao động; (iii) đảm bảo quyền tự chủ trong việc nhận đại diện lao động trong các đơn vị không có tổ chức đại diện lao động; (iv) đảm bảo tính đại diện trong việc lựa chọn đại diện lao động; (v) ngăn chặn việc can thiệp của giới chủ và các chủ thể khác vào hoạt động của tổ chức đại diện lao động.
– Đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về 05 khía cạnh nêu trên, trên cơ sở so sánh, rút ra kết luận về sự phù hợp, không phù hợp với tiêu chuẩn của ILO.
– Phân tích các điều kiện đảm bảo thực hiện hiệu quả các cam kết về đại diện lao động trong CPTPP.
– Đề xuất sửa đổi, bổ sung pháp luật Việt Nam về đại diện lao động về cả nội dung pháp luật (theo 05 khía cạnh đã đánh giá thực trạng nêu trên) và hình thức pháp luật, đồng thời, đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đại diện lao động để chế định đại diện lao động thực sự có giá trị thực tiễn.
Có thể nói Luận văn là một công trình nghiên cứu theo hướng mới, bóc tách riêng về vấn đề hoàn thiện pháp luật về đại diện lao động phù hợp với tiêu chuẩn của CPTPP.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 3 Chương, gồm:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về đại diện lao động và pháp luật về đại diện lao động
Chương 2: Tiêu chuẩn của Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương về đại diện lao động và đánh giá sự tương thích với pháp luật Việt Nam
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đại diện lao động ở Việt Nam.
[1] Quyền tự do liên kết được đề cập trong 2 công ước này chỉ bao gồm quyền của người lao động cũng như của người sử dụng lao động được thành lập, gia nhập tổ chức đại diện cho mình nhằm mục đích trong tác trong quan hệ lao động. Hai công ước này không điều chỉnh các hiệp hội cũng như các hoạt động không thuộc về quan hệ lao động.
[2] Việt Nam đã là thành viên của 2 Công ước nhân quyền của Liên Hợp Quốc là Công ước về các quyền dân sự, chính trị và Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Cả 2 Công ước này đều yêu cầu các quốc gia thành viên Công ước phải bảo đảm thực hiện quyền công đoàn của người lao động (Điều 22 Công ước về các quyền dân sự, chính trị và Điều 8 Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa).
[3] Việt Nam là thành viên của tổ chức ILO từ năm 1992 và đã phê chuẩn 6/3 Công ước cơ bản của ILD (Công trúc số 29, Công ước số 98, Công ước số 100, Công ước số 111, Công ước số 138 và Công ước số 182) và đang chuẩn bị trình cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn đối với 2 Công ước cơ bản còn lại (Công ước số 37 và Công ước số 105). Theo Tuyên bố năm 1998 của ILO,mọi quốc gia thành viên đều có nghĩ vụ tân trang thúc đẩy và thực hiện các tiêu chuẩn họ động quốc tế cơ bản, trong đó có Công ước số 87 về tự do liên kết và Công ước số 98 vẻ tuong trong tập thể.
[4] Theo cam kết trong CPTPP, riệng Việt Nam có được thời gian chuẩn bị là 5 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu học (tức là khoảng 7 năm kể từ khi ký Hiệp định), để đến khi đó sẽ cho phép các tổ chức của người lao động ở cấp cơ sở có thể gia nhập hoặc cùng nhau thành lập tổ chức của người lao động ở cấp cao hơn rur cấp ngành, cấp vùng theo đúng trình tự đăng ký được pháp luật quy định một cách công khai, minh bạch.
Định dạng | Link tải |