[Khóa luận 2021] Bảo hộ chỉ dẫn địa lý tại Việt Nam và bài học kinh nghiệm của nước ngoài cho Việt Nam
Định dạng | Link tải |

Mục lục
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: KHÁI LUẬN CHUNG VỀ BẢO HỘ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ | 7 |
| 1.1. Khái niệm chỉ dẫn địa lý và bảo hộ chỉ dẫn địa lý | 7 |
| 1.1.1. Khái niệm chỉ dẫn địa lý | 7 |
| 1.1.2. Khái niệm bảo hộ chỉ dẫn địa lý | 11 |
| 1.2. Ý nghĩa của việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý | 13 |
| 1.2.1. Ý nghĩa đối với chủ thể quyền | 13 |
| 1.2.2. Ý nghĩa đối với cộng đồng, xã hội | 15 |
| KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 | 16 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HỘ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ | 17 |
| 2.1. Điều kiện bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý | 17 |
| 2.1.1. Nguồn gốc địa lý của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý | 18 |
| 2.1.2. Danh tiếng, chất lượng và đặc thù của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý | 20 |
| 2.1.3. Các trường hợp không được bảo hộ chỉ dẫn địa lý | 22 |
| 2.2. Xác lập quyền đối với chỉ dẫn địa lý | 25 |
| 2.2.1. Phương thức xác lập quyền | 25 |
| 2.2.2. Chủ thể có quyền đăng ký | 26 |
| 2.2.3. Trình tự, thủ tục xử lý đơn | 27 |
| 2.3. Chủ sở hữu và vấn đề quản lý chỉ dẫn địa lý | 29 |
| KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 | 36 |
| CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ | 37 |
| 3.1. Bài học kinh nghiệm từ pháp luật Liên minh châu Âu | 37 |
| 3.2. Bài học kinh nghiệm từ pháp luật Nhật Bản | 43 |
| 3.3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam | 47 |
| KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 | 54 |
| KẾT LUẬN | 55 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO |
Định dạng | Link tải |
Tình hình nghiên cứu đề tài
Nội dung liên quan đến sở hữu công nghiệp nói chung hay những vấn đề liên quan đến chỉ dẫn địa lý nói riêng đã được nghiên cứu bởi nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, bao gồm cả tài liệu trong và ngoài nước. Qua tìm hiểu và khảo sát đối với các công trình khoa học pháp lý, tác giả nhận thấy tình hình nghiên cứu cụ thể như sau:
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ (Tái bản, có sửa chữa, bổ sung), Nguyễn Hồ Bích Hằng và Nguyễn Xuân Quang (chủ biên), Nxb. Hồng Đức. Giáo trình đã giới thiệu một cách khái quát về ngành luật sở hữu trí tuệ, đồng thời đi sâu vào việc phân tích những đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng. Dưới góc độ là công trình nghiên cứu một cách tổng quan về pháp luật sở hữu trí tuệ cho nên vấn đề chỉ dẫn địa lý chưa được các tác giả khai thác một cách tối đa. Bên cạnh đó, các tác giả cũng chưa đưa ra được những bất cập và hướng hoàn thiện đối với các quy định liên quan đến chỉ dẫn địa lý.
Vũ Thị Hải Yến (2008), Bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án Tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội. Theo quan điểm của tác giả bài viết, luận án là công trình đầu tiên thực hiện, nghiên cứu một cách chuyên sâu và có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến bảo hộ chỉ dẫn địa lý tại Việt Nam đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Bên cạnh đó, tác giả còn đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo hộ chỉ dẫn địa lý.
Nguyễn Thị Phương Thảo (2016), Xây dựng hệ thống kiểm soát độc lập để quản lý các chỉ dẫn địa lý của Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn đã hệ thống hóa được các cơ sở lý luận về quản lý và kiểm soát độc lập đối với chỉ dẫn địa lý. Trên cơ sở khảo sát, phân tích thực trạng quản lý và kiểm soát chỉ dẫn địa lý tại Việt Nam, tác giả đã đề xuất các giải pháp hình thành và triển khai hệ thống kiểm soát độc lập cho những sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý. Ở công trình này, vấn đề bảo hộ chỉ dẫn địa lý chỉ được tác giả trình bày một cách khái quát, đóng vai trò nền tảng cho việc nghiên cứu vấn đề quản lý và kiểm soát chỉ dẫn địa lý.
Lê Việt Tuấn (2004), Hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo hộ chỉ dẫn địa lý trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh – Khoa Luật Đại học Luật, Đại học Lund. Công trình đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về bảo hộ chỉ dẫn địa lý. Bên cạnh đó, các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ chỉ dẫn địa lý được nghiên cứu trên cơ sở so sánh với các quy định của Hiệp định TRIPS. Ngoài ra, tác giả cũng đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo hộ chỉ dẫn địa lý trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, công trình được nghiên cứu vào thời điểm chỉ dẫn địa lý vẫn còn là một đối tượng khá mới mẻ từ góc độ pháp lý cho đến góc độ nghiên cứu khoa học. Do đó, những quy định của pháp luật cũng như thực tiễn bảo hộ chỉ dẫn địa lý đã có nhiều sự khác biệt so với thời điểm hiện tại.
Đặng Thị Hương Giang (2013), Bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho hàng nông sản theo pháp luật Việt Nam – So sánh với pháp luật Liên minh châu Âu, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Ở công trình này, tác giả đã làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho hàng nông sản. Dựa trên việc so sánh những quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật châu Âu về bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho hàng nông sản, tác giả có cơ sở đánh giá những điểm hạn chế và đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam. Nhìn chung, những kiến nghị mà tác giả đưa ra là kết quả của việc nghiên cứu các quy định pháp luật về bảo hộ chỉ dẫn địa lý. Thực tiễn bảo hộ chỉ dẫn địa lý tại Việt Nam chưa được tác giả chú trọng khai thác ở công trình này.
Nguyễn Thị Thu Thủy (2007), Xây dựng chỉ dẫn địa lý cho hàng nông sản Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả đã trình bày những vấn đề lý luận liên quan đến xây dựng chỉ dẫn địa lý tại Việt Nam. Thông qua việc hệ thống những quy định của pháp luật, tác giả đưa ra những đánh giá và đề xuất liên quan đến vấn đề xây dựng chỉ dẫn địa lý. Ở công trình này, chỉ dẫn địa lý được tác giả nghiên cứu dưới góc độ xây dựng và áp dụng đối với hàng hóa nông sản. Do đó, vấn đề bảo hộ chỉ dẫn địa lý không chiếm dung lượng quá nhiều trong phần nghiên cứu của tác giả.
Bùi Thị Hằng Nga, Nguyễn Minh Bách Tùng (2020), “Bảo hộ chỉ dẫn địa lý: Yêu cầu của phát triển nông nghiệp bền vững”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 17 (417), tr. 50 – 56. Trong phạm vi bài viết, các tác giả đã trình bày một cách khái quát về chỉ dẫn địa lý, thực tiễn bảo hộ và sử dụng chỉ dẫn địa lý cho hàng nông sản tại Việt Nam. Đồng thời chỉ ra nguyên nhân và kiến nghị giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả về bảo hộ, sử dụng chỉ dẫn địa lý cho nông sản. Công trình này tập trung nghiên cứu vào thực tiễn bảo hộ và sử dụng chỉ dẫn địa lý trên thực tế, do đó các quy định pháp luật có liên quan chưa được các tác giả chú trọng khai thác.
Annette Kur, Sam Cockst (2007), “Nothing but a GI thing: Geographical Indications under EU Law”, Fordham Intellectual Property, Media and Entertainment Law Journal, Vol 17 No 4, page 999 – 1016. Dưới góc nhìn từ pháp luật châu Âu, các tác giả đã nghiên cứu một cách tổng quan những quy định của pháp luật về chỉ dẫn địa lý. Ngoài ra, các tác giả còn đề cập đến sự tương thích của pháp luật châu Âu với Hiệp định TRIPS về chỉ dẫn địa lý trong bài viết của mình.
Jeongwook Suh, Alan MacPherson (2007), “The impact of geographical indication on the revitalisation of a regional economy: a case study of ‘Boseong’ green tea”, The Geographical Journal, Vol 34 (4), page 518 – 527. Công trình đã nghiên cứu về ảnh hưởng của chỉ dẫn địa lý đối với sự hồi sinh của nền kinh tế thông qua một chỉ dẫn cụ thể “Boseong” đối với sản phẩm chè xanh. Ở công trình này, chỉ dẫn địa lý được các tác giả nghiên cứu dưới một khía cạnh nhất định về sự ảnh hưởng đối với nền kinh tế khu vực. Các vấn đề pháp lý liên quan về bảo hộ chỉ dẫn địa lý không được các tác giả chú trọng khai thác.
Tựu chung lại, hầu hết các công trình đã nghiên cứu một cách tổng quan về chỉ dẫn địa lý dưới góc nhìn lý luận và thực tiễn. Với nhiều cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã thể hiện những quan điểm riêng và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về chỉ dẫn địa lý. Qua quá trình tìm hiểu và khảo sát, tác giả nhận thấy số lượng công trình nghiên cứu một cách toàn diện về vấn đề bảo hộ chỉ dẫn địa lý vẫn còn hạn chế. Bên cạnh đó, trải qua một khoảng thời gian, việc áp dụng các quy định pháp luật về bảo hộ chỉ dẫn địa lý đã có nhiều thay đổi. Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 cũng đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2009 và 2019 nhằm phù hợp với tình hình thực tại của Việt Nam. Thông qua việc nghiên cứu các công trình, tác giả đã có cái nhìn tổng thể về vấn đề, từ đó có những định hướng cho công trình của mình một cách phù hợp.
Tải về tại đây để xem đầy đủ tài liệu
Định dạng | Link tải |