[Tiểu luận 2024] Tư tưởng đề cao chủ quyền nhân dân trong Hiến pháp 2013? (ST0110)
Định dạng | Link tải |

Mục lục
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| NỘI DUNG | 1 |
| I – Khái quát chủ quyền nhân dân – tinh thần chủ đạo trong lịch sử lập hiến Việt Nam | 1 |
| 1.1. Chủ quyền nhân dân | 1 |
| 1.2. Lịch sử chủ quyền nhân dân | 1 |
| 1.3. Tinh thần chủ đạo trong lịch sử lập hiến Việt Nam | 3 |
| II – Chủ quyền nhân dân trong Hiến pháp 2013 | 5 |
| 2.1. Chủ quyền nhân dân trong hệ thống chính trị. | 5 |
| 2.2. Chủ quyền nhân dân trong cơ chế chế độ bầu cử, ứng cử | 10 |
| 2.2.1. Khái niệm quyền bầu cử | 10 |
| 2.2.2. Về nguyên tắc bầu cử | 11 |
| 2.2.3. Về quyền bầu cử của công dân và nguyên tắc bỏ phiếu bầu | 12 |
| 2.2.4. Về bầu Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Nhân dân | 14 |
| 2.2.5. Về Hội đồng bầu cử quốc gia | 15 |
| 2.3. Trong các chức năng nhiệm vụ của các cơ quan trong bộ máy nhà nước | 16 |
| III – So sánh với các bản Hiến pháp khác trong lịch sử lập hiến Việt Nam | 19 |
| IV – Tổng kết | 22 |
Định dạng | Link tải |
Lời mở đầu
I – Khái quát chủ quyền nhân dân – tinh thần chủ đạo trong lịch sử lập hiến Việt Nam
1.1. Chủ quyền nhân dân
Chủ quyền nhân dân là nguyên tắc khẳng định rằng tính hợp pháp (tính chính danh) của Nhà nước phải được xác lập và duy trì dựa vào ý chí hoặc sự đồng thuận của nhân dân. Nguyên tắc “Chủ quyền nhân dân” hay còn gọi là nguyên tắc “Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” – là nguyên tắc để xây dựng nên nền tảng hình thành toàn bộ bộ máy nhà nước. Tính chất dân chủ nhân dân luôn được thể hiện rõ ràng qua các khía cạnh chủ yếu: chính trị và đời sống xã hội. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Mọi quyền hạn đều là của dân”. “Cán bộ từ Trung ương đến cán bộ ở các cấp các ngành đều là “đầy tớ” của dân, do dân cử ra và do dân bãi miễn… Nói cách khác, chủ quyền nhân dân đòi hỏi muốn cầm quyền thì phải được nhân dân lựa chọn; muốn tiếp tục cầm quyền thì phải được nhân dân ủng hộ. Cốt lõi trong quan điểm về chủ quyền nhân dân là tư tưởng chính quyền thuộc về nhân dân. Với nội hàm như trên, việc xác lập chủ quyền nhân dân là rất quan trọng không chỉ để xây dựng một nhà nước dân chủ, mà còn để khuyến khích nhà nước đó phục vụ nhân dân. Một nhà nước không do nhân dân, thì không thể vì nhân dân. Một quan chức không do nhân dân, thì ít có khuyến khích để phục vụ nhân dân.[1]
Chủ quyền nhân dân là một đặc trưng quan trọng của Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Việc nhận thức và thể hiện chủ quyền nhân dân trong các bản Hiến pháp của Việt Nam không giống nhau và có những hạn chế nhất định. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã thể hiện chủ quyền nhân dân đầy đủ hơn so với các Hiến pháp trước đây.
1.2. Lịch sử chủ quyền nhân dân
“Chủ quyền nhân dân” là một khái niệm chỉ ra rằng “Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Thuật ngữ này đã xuất hiện từ Thế kỉ thứ V TCN tại Hy Lạp. Tuy vậy nhưng Chủ quyền nhân dân chỉ mới xuất hiện tại việt nam gần 70 năm, cụ thể là vào năm 1946 khi bản Hiến pháp đầu tiên của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghiã Việt Nam được công bố.[2]
Sau khi đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” lịch sử ngày 02/9/1945 khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 03/9/1945, Hồ Chủ tịch đã đề ra sáu nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ; một trong những nhiệm vụ cấp bách đó là xây dựng Hiến pháp, về vấn đề Hiến pháp, Người viết: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một “Hiến pháp dân chủ”.
Ngày 20/9/1945, Chính phủ lâm thời ban hành sắc lệnh thành lập Ban dự thảo Hiến pháp gồm 7 người, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Tháng 11/1945, Ban dự thảo đã hoàn thành công việc và Bản dự thảo được công bố cho toàn dân thảo luận. Hàng triệu người Việt Nam hăng hái tham gia đóng góp ý kiến cho Bản dự thảo Hiến pháp chứa đựng mơ ước bao đời của họ về độc lập và tự do.
Ngày 02/3/1946, trên cơ sở Bản dự thảo Hiến pháp của Chính phủ, Quốc hội (khoá I, kì họp thứ nhất) đã thành lập Ban dự thảo Hiến pháp gồm 11 người đại biểu của nhiều tổ chức, đảng phái khác nhau do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Ban dự thảo có nhiệm vụ tổng kết các ý kiến đóng góp của nhân dân và xây dựng Bản dự thảo cuối cùng để đưa ra Quốc hội xem xét và thông qua. Ngày 28/10/1946, tại Nhà hát lớn Hà Nội, kì họp thứ hai của Quốc hội khoá I đã khai mạc. Ngày 09/11/1946, sau hơn 10 ngày làm việc khẩn trương, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta. Đánh dấu một bước ngoặc trong công cuộc xây dựng, quản lí và phát triển nước Việt Nam.[3]
“Chủ quyền nhân dân” tại Việt Nam ra đời cùng với Hiến pháp 1946. Trải qua quá trình phát triển, nước ta đã mới đổi và cho ra đời thêm 4 bản Hiến pháp sau đó mà tính “chủ quyền nhân dân” được đề cập xuyên suốt các chương, điều, khoản. “Chủ quyền nhân dân” là nguyên tắc quan trọng nhất trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Nguyên tắc này thiết lập nền tảng để hình thành toàn bộ bộ máy nhà nước.
1.3. Tinh thần chủ đạo trong lịch sử lập hiến Việt Nam
Nhận thấy rõ vai trò cách mạng của quần chúng nhân dân, ngay sau khi độc Bản tuyên ngôn khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra một trong những nhiệm vụ cấp bách trong kì họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3/9/1945 là thành lập một bản Hiến pháp dân chủ.
Nói về câu chuyện này, tại kì họp này 3/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày: “Trước chúng ta bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp, Nhân dân ta không được hưởng tự do nhân chủ. Chúng ta phải có một bản Hiến pháp dân chủ…” Suốt hơn 80 năm thành lập chính quyền của giai cấp vô sản, nhà nước ta thống nhất tư tưởng, nhất quán về đường lối luôn phấn đấu vì nền dân chủ nhân dân vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh xây dụng thành công nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Điều này được thể hiện nhất quán trong lịch sử lập hiến của nhân tộc ta. Lịch sử 5 bảng Hiến pháp đã chứng minh rằng chủ quyền nhân dân là sợi chỉ đỏ, là mạch máu xuyên suốt của quan điểm trị quốc. Tuy hình thức thể hiện cụ thể trong năm bảng Hiến pháp là khác nhau, nhưng nhìn chung tư tưởng chủ đạo vẫn là phát huy và đề cao tính dân chủ. Cụ thể, trong chế định về hình thức nhà nước, tuy có những ý chí ở từng giai đoạn khác nhau, nhưng tất cả đều trên một nguyên tắc chung là Nhân dân làm chủ.
– Hiến pháp 1946 ghi nhận tại lời nói đầu về nguyên tắc lập hiến là “đảm bào các quyền tự do dân chủ”, nguyên tắc này quy định các điều khoản còn lại của Hiến pháp phải trên nguyên tắc dân chủ, nguyên tắc cũng chỉ ra yêu cầu cấp thiết phải đề cao dân chủ khi xây dựng nhà nước Xã hội chủ nghĩa, cũng tại lời nói đầu ghi nhận “Được Quốc dân giao cho trách nhiệm soạn thảo bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Quốc hội…”, qua sự ghi nhận này Quốc hội đã trở thành cơ quan làm việc cho dân, phục vụ, phụng sự người dân. Hay tại điều 1 bản Hiến pháp này quy định “Tất cả quyền bính trong nước là của nhân dân Việt Nam”, quy định này đã thừa nhận rằng quyền lực của nhà nước là của nhân dân trao cho, Nhà nước phải là củ thể hết lòng phụng sự người dân.
– Tại Hiến pháp 1959 cũng ghi nhận “Tất cả quyền lực trong nước Việt nam dân chủ dân chhur cộng hòa đề thuộc về nhân dân.” (Điều 4). Chỉ riêng chế định này đủ thấy Hiến pháp 1959 đề cao chủ quyền nhân dân, coi chủ quyền nhân dân là tinh thần chung nhất quán. Tuy có sự khác biệt khi quy định chế độ làm việc tập chung, nhưng chung quy lại hoạt động vẫn trên nguyên tắc nhân chủ.
– Tiếp đến Hiến pháp 1980, ra đời trong giai đoạn có nhiều bước ngoặt nhảy vọt, Hiến pháp 1980 đã mang trong mình một “ngọn gió khác biệt” khi đây là bản Hiến pháp ghi nhận chính quyền chuyên chính vô sản, mặc dù về hình thức chính thể và tư tưởng đã có phần chủ quan duy ý chí, nhưng rõ ràng mục tiêu vẫn là thực hiện quyền làm chủ của người dân,.v.v. Do vì một số lí do chủ quan, Hiến pháp 1980 đã không phát huy được vai trò làm chủ của nhân dân trên nguyên tắc nhân chủ hoàn bị, bản Hiến pháp này đã vô tình làm biến chất nguyên tắc dân chủ đề ra ở Hiến pháp 1946, nhưng phải rõ ràng mà đánh giá rằng bản Hiến pháp này cũng xây dựng cho mục tiêu dân chủ khi hiến định về nhà nước chính quyền chuyên chính vô sản, hình thức dân chủ cao nhất.
– Đến với hiến pháp 1992, đánh dấu sự trở về đầy đủ, đúng đắn nguyên tắc dân chủ được đề ra ở hiến pháp 1946 khi quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hôi chủ nghũa việt nam là nhà nước của dân do dân vì dân. Tát cả quyền lực trong nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp tri thức” (Điều 2). Tiếp tục kế thừa ngọn lửa dân chủ, Hiến pháp 2013 tiếp tục ghi nhận vai trò quyền lục cửa người dân trong làm vào bảo vệ Hiến pháp. Bên cạnh đó Hiến pháp 2013 còn ghi nhận chủ quyền nhân dân trong các chế định về bầu củ, ứng cử, trong thủ tục lập pháp… Như vậy có thể thấy rằng trong cả 5 bản hiến pháp trải dài hơn 80 năm lịch sư, tinh thần gốc, ngọn lửa nguồn vẫn là chủ quyền nhân dân.
Tóm lại với tinh thần chủ đạo của 5 bản Hiến pháp của nước ta là những nấc thang lớn vươn tới Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Theo đó, những giá trị cốt lõi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thể hiện rõ trong các đặc trưng cơ bản: Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ của đời sống xã hội.
[1] Chủ quyền nhân dân, diễn đàn Tia Sáng, https://tiasang.com.vn/dien-dan/chu-quyen-nhan-dan-6499/, truy cập ngày 02/07/2013.
[2] https://vi.wikipedia.org/wiki/D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7
[3] Luật sư Lê Minh Trường (2021), Hoàn cảnh ra đời, nội dung cơ bản của Hiến pháp Việt Nam năm 1946, https://luatminhkhue.vn/tim-hieu-ve-hien-phap-viet-nam-nam-1946.
Tải về để xem đầy đủ tài liệu
Định dạng | Link tải |