Pháp luật về xúc tiến du lịch – Một số vấn đề lý luận, thực trạng và giải pháp hoàn thiện
Định dạng | Link tải |

Mục lục
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| LỜI CAM ĐOAN | |
| DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT | |
| MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Tính cấp thiết của đề bài | 1 |
| 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu | 2 |
| 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu | 6 |
| 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu | 7 |
| 5. Các phương pháp nghiên cứu | 7 |
| 6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài | 8 |
| 7. Kết cấu của khóa luận | 8 |
| CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI | 10 |
| 1.1. Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại | 10 |
| 1.1.1. Khái niệm trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại | 10 |
| 1.1.2. Đặc điểm trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội | 18 |
| 1.2. Nội dung quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại | 22 |
| 1.3. Quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự một số quốc gia trên thế giới | 25 |
| 1.3.1. Quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa | 26 |
| 1.3.2. Quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự nước Cộng hòa Pháp | 28 |
| 1.3.3. Bài học cho Việt Nam | 30 |
| Tiểu kết chương 1 | 33 |
| CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI | 34 |
| 2.1. Phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại | 34 |
| 2.2. Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại | 42 |
| 2.3. Hình phạt áp dụng đối với pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự | 47 |
| 2.3.1. Các hình phạt chính | 48 |
| 2.3.2. Các hình phạt bổ sung áp dụng đối với pháp nhân thương mại | 50 |
| Tiểu kết chương 2 | 52 |
| CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BẤT CẬP CỦA CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI | 53 |
| 3.1. Một số bất cập của các quy định của luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại | 53 |
| 3.2. Kiến nghị hoàn thiện các quy định của luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại | 56 |
| Tiểu kết chương 3 | 59 |
| KẾT LUẬN | 60 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 62 |
Định dạng | Link tải |
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÚC TIẾN DU LỊCH VÀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ XÚC TIẾN DU LỊCH
2.1. Lý luận về xúc tiến du lịch
2.1.1. Khái niệm xúc tiến du lịch
- Xúc tiến du lịch ở góc độ kinh tế
Hoạt động XTDL đã và đang trở thành một công cụ vô cùng hiệu quả để thu hút, thuyết phục du khách đến điểm du lịch, là yếu tố rất thiết yếu trong việc thúc đẩy phát triển du lịch.
“Xúc tiến” (Promotion) trong tiếng Anh được hiểu là sự khuyến khích, ủng hộ, thúc đẩy hay sự thăng tiến. Philip Kotler trong cuốn “Marketing căn bản” đã định nghĩa: “Xúc tiến là hoạt động thông tin tới khách hàng tiềm năng. Đó là các hoạt động trao truyền, chuyển tải tới khách hàng những thông tin cần thiết về doanh nghiệp, sản phẩm của doanh nghiệp, phương thức phục vụ và những lợi ích khác mà khách hàng có thể thu được từ việc mua sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp cũng như những thông tin phản hồi từ phía khách hàng để từ đó doanh nghiệp tìm ra cách thức tốt nhất nhằm thoả mãn yêu cầu của khách hàng” [121, tr. 55].
Theo từ điển Việt-Việt giải thích xúc tiến có nghĩa là làm cho tiến triển nhanh hơn [48, tr.1138]. Như vậy, hiểu một cách khái quát, xúc tiến du lịch (tourism promotion) chính là việc quảng bá, thúc đẩy ngành du lịch phát triển.
Xúc tiến du lịch được xem xét với tư cách là hành vi xúc tiến thương mại trong lĩnh vực du lịch. Các nhà nghiên cứu kinh tế Jerome Mc Cathy, William
- Perreault cũng cho rằng xúc tiến thương mại là việc truyền tin giữa người bán và người mua hay khách hàng tiềm năng khác nhằm tác động vào hành vi mua và quan điểm mua hàng. Chức năng xúc tiến thương mại chính của nhà quản trị marketing là mách bảo cho khách hàng mục tiêu biết đúng sản phẩm, đúng chỗ và đúng giá. Nghiên cứu khái niệm này, tiến sỹ kinh tế Đỗ Thị Loan cũng khẳng định: Xúc tiến thương mại là hoạt động trao đổi và hỗ trợ trao đổi thông tin giữa người bán và người mua hoặc qua khâu trung gian nhằm tác động tới thái độ và hành vi mua bán, qua đó thúc đẩy việc mua bán, trao đổi sản phẩm, dịch vụ chủ yếu nhằm mở rộng và phát triển thị trường [62, tr.8]. Các định nghĩa trên đây đều coi xúc tiến thương mại là các biện pháp liên hệ với thị trường do thương nhân thực hiện để phát triển thương mại, là nghệ thuật mà nhà kinh doanh dùng để thông tin về hàng hóa, tác động tới người mua, lôi kéo người mua về phía mình và các biện pháp hỗ trợ cho bán hàng.
Theo quan điểm của Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), xúc tiến thương mại cũng được hiểu là hoạt động trao đổi và hỗ trợ trao đổi thông tin giữa bên bán và bên mua hoặc qua khâu trung gian nhằm tác động tới thái độ và hành vi mua, bán và qua đó thúc đẩy việc mua bán và trao đổi sản phẩm, dịch vụ [71, tr.10].
Với cách tiếp cận như vậy, ở góc độ kinh tế, xúc tiến du lịch được hiểu là một hoạt động xúc tiến thương mại hỗ trợ việc mua, bán dịch vụ giữa các chủ thể có liên quan, theo đó người bán hàng cung cấp thông tin và marketing về dịch vụ nhằm thúc đẩy việc bán sản phẩm dịch vụ du lịch; đồng thời tác động đến người mua trong việc lựa chọn sản phẩm dịch vụ du lịch.
Trong XTDL, các biện pháp XTDL giữa thương nhân và các chủ thể khác có thể phân loại như sau:
(i) Căn cứ vào chủ thể của hoạt động XTDL, có thể phân chia thành: Các biện pháp XTDL do thương nhân thực hiện và các biện pháp XTDL do các chủ thể khác thực hiện.
– Các biện pháp XTDL do thương nhân thực hiện có mục đích tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội du lịch cho chính thương nhân, bao gồm: Khuyến mại; quảng cáo; giới thiệu sản phẩm dịch vụ du lịch; hội chợ, triển lãm du lịch; các biện pháp dành lợi ích cho khách hàng để kích thích nhu cầu của khách hàng; tăng cường khả năng phân phối lưu thông dịch vụ đến thị trường bằng việc mở rộng mạng lưới đại lý và các kênh tiêu thụ dịch vụ du lịch; biện pháp tìm kiếm đối tác liên doanh, liên kết…
– Các biện pháp XTDL do Nhà nước thực hiện (chủ yếu là Chính phủ), có mục đích tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội du lịch cho các thương nhân, doanh nghiệp nói chung. Công cụ chính được sử dụng ở nhóm các biện pháp này là chính sách và thực thi chính sách, cụ thể là: Ban hành pháp luật, ký kết các hiệp định, nghị định du lịch, thành lập các văn phòng xúc tiến du lịch, văn phòng đại diện du lịch ở nước ngoài. Cung cấp các dịch vụ thông tin du lịch, dịch vụ đào tạo, tổ chức hội chợ, triển lãm du lịch…
(ii) Căn cứ vào không gian XTDL, có thể phân chia thành: Các hoạt động XTDL diễn ra trong nội bộ đơn vị kinh doanh và các biện pháp liên hệ với thị trường để XTDL.
Các hoạt động XTDL diễn ra trong nội bộ đơn vị kinh doanh như quản lý mối quan hệ khách hàng (CRM)… Hoạt động này về cơ bản thuộc phạm vi quản trị kinh doanh của doanh nghiệp, do doanh nghiệp tự quyết định và tổ chức thực hiện.
Các biện pháp liên hệ với thị trường để XTDL là những biện pháp tạo ra và kích thích nhu cầu của khách hàng, diễn ra trong và ngoài phạm vi quốc gia, bao gồm các hoạt động khuyến mại, quảng cáo, hội chợ, triển lãm, lập văn phòng đại diện ở nước ngoài hoặc việc Nhà nước đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế về du lịch.
(iii) Căn cứ vào đối tượng, phạm vi tác động của hoạt động xúc tiến, có thể phân chia thành: Xúc tiến mua bán dịch vụ du lịch và xúc tiến cung ứng dịch vụ du lịch.
Xúc tiến mua bán dịch vụ du lịch bao gồm toàn bộ các cách thức, biện pháp nhằm thúc đẩy khả năng bán và mua dịch vụ du lịch của doanh nghiệp. Hoạt động này gồm có: Khuyến mại, quảng cáo, tham gia hội chợ, triển lãm, bán dịch vụ du lịch trực tiếp và quan hệ công chúng.
Xúc tiến cung ứng dịch vụ được thực hiện ở các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ, nhằm mục đích tăng cường cơ hội kinh doanh cho mình. Thương nhân có thể XTDL để cung cấp các dịch vụ du lịch.
Như vậy, hoạt động XTDL ở góc độ kinh tế có đặc điểm chính như sau: – Về tính chất: XTDL chủ yếu là các hoạt động liên hệ với thị trường nhằm mục đích khuyến khích, thúc đẩy phát triển du lịch.
– Về phạm vi tác động: Hoạt động XTDL có phạm vi tác động là quan hệ cung ứng dịch vụ.
– Về chủ thể: Chủ thể thực hiện XTDL là thương nhân và các chủ thể liên quan khác.
– Về không gian thực hiện: Hoạt động XTDL được thực hiện ở nhiều không gian khác nhau, trong phạm vi quốc gia và các kênh liên hệ với thị trường khu vực và quốc tế.
Có thể khẳng định, XTDL dưới góc độ kinh tế là các hoạt động kinh doanh thương mại nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch.
- Xúc tiến du lịch ở góc độ pháp lý
Với tư cách là một khái niệm pháp lý, XTDL bắt nguồn từ khái niệm xúc tiến thương mại và xúc tiến du lịch, được quy định trong pháp luật thực định:
Theo pháp luật du lịch, xúc tiến du lịch được khái niệm tại khoản 10, Điều 10 Pháp lệnh Du lịch năm 1999: “Là hoạt động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch” và được mở rộng tại khoản 17, Điều 4 Luật Du lịch năm 2005, “là hoạt động tuyên truyền, quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch” và tiếp tục bổ sung hoàn thiện ở Luật Du lịch năm 2017 tại khoản 13, Điều 3, theo đó khái niệm xúc tiến du lịch được định nghĩa đầy đủ và rõ ràng hơn, đó: “là hoạt động nghiên cứu thị trường, tổ chức tuyên truyền, quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển và thu hút khách du lịch”.
Theo pháp luật thương mại, xúc tiến thương mại lần đầu tiên được định nghĩa tại khoản 5, Điều 5 Luật Thương mại năm 1997: “Là hoạt động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ thương mại” và tiếp tục được ghi nhận lại trong Luật Thương mại năm 2005, có bổ sung phần liệt kê các loại hoạt động xúc tiến thương mại. Khoản 10, Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 quy định xúc tiến thương mại: “Là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ, bao gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thương mại”.
Từ khái niệm xúc tiến thương mại theo Luật Thương mại năm 2005, với tính chất là một hành vi chuyên biệt của xúc tiến thương mại, theo pháp luật thương mại, thì XTDL cũng được hiểu theo khái niệm: Là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán và cung ứng sản phẩm dịch vụ du lịch, bao gồm hoạt động khuyến mại du lịch, quảng cáo du lịch, giới thiệu sản phẩm dịch vụ du lịch và hội chợ, triển lãm du lịch.
* Như vậy, dưới góc độ pháp lý, XTDL được nghiên cứu phân tích ở khía cạnh là một phạm trù pháp lý, quy định quyền của cá nhân, tổ chức được ghi nhận trong các quy định của pháp luật. Ở nghĩa chủ quan là quyền của chủ thể và theo nghĩa khách quan là tổng hợp các quy định pháp luật [40, tr.29].
– Về chủ quan: Quyền hoạt động XTDL là khả năng thực hiện có ý thức các biện pháp tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội du lịch của cá nhân, tổ chức nhằm tăng cường cơ hội cung ứng dịch vụ du lịch, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam của thương nhân. Song lợi ích có được từ hoạt động này không chỉ là lợi ích của thương nhân mà còn bao gồm lợi ích quốc gia. Cho nên, hỗ trợ môi trường cho thương nhân thực hiện quyền XTDL, Nhà nước ban hành chính sách pháp luật và tiến hành các hoạt động quảng bá XTDL như một ngành kinh tế quan trọng của quốc gia.
Đối với thương nhân, quyền hoạt động XTDL có nghĩa là quyền tự do hoạt động XTDL, thể hiện qua: Tự do chọn cách thức tổ chức hoạt động XTDL (tự tiến hành hoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ), tự lựa chọn các hình thức XTDL phù hợp như khuyến mại bằng giảm giá, tặng quà, quảng cáo để giới thiệu thông tin về sản phẩm dịch vụ du lịch, kể cả việc tiến hành đồng thời nhiều hình thức XTDL, lựa chọn thời gian, địa bàn, kinh phí XTDL, lựa chọn dịch vụ được khuyến mại và dịch vụ dùng để khuyến mại. Quyền tự do hoạt động XTDL là một bộ phận của quyền tự do kinh doanh, bên cạnh các quyền tự do sở hữu, tự do thành lập doanh nghiệp, tự do hợp đồng, tự do cạnh tranh… Đối với thương nhân, những xử sự này tất yếu diễn ra và có nhiều vấn đề phức tạp, mâu thuẫn lợi ích giữa thương nhân XTDL với người tiêu dùng, với đối thủ cạnh tranh (thương nhân khác) và thậm chí với Nhà nước. Đó là các vấn đề về chất lượng dịch vụ khuyến mại, quảng cáo, giảm giá hay bán phá giá dịch vụ để cạnh tranh, về tính trung thực của thông tin quảng cáo. Do đó, pháp luật cần phải có sự điều chỉnh phù hợp.
– Về khách quan: Quyền hoạt động XTDL được hiểu là tổng hợp các quy định pháp luật ghi nhận quyền hoạt động XTDL của cá nhân, tổ chức. Đối với hoạt động XTDL của thương nhân, các quy định pháp luật do Nhà nước ban hành hay thừa nhận không chỉ là cơ sở pháp lý cho việc thực hiện quyền năng chủ thể mà còn quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan nhà nước, công chức nhà nước trong việc tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền hoạt động XTDL của thương nhân. Theo nghĩa này, quyền hoạt động XTDL cũng có nghĩa là pháp luật về XTDL.
* Phân biệt xúc tiến du lịch và xúc tiến thương mại:
– Thứ nhất, về chủ thể: Cả Nhà nước và thương nhân đều có những chủ thể có quyền thực hiện hoạt động xúc tiến du lịch và xúc tiến thương mại.
Tuy nhiên, đối với hoạt động XTDL, Nhà nước thường là chủ thể giữ vai trò xây dựng chính sách phát triển và quảng bá ngành du lịch. Các thương nhân du lịch, đóng vai trò chủ động, hỗ trợ Nhà nước thực hiện những chính sách này; đồng thời, họ cũng độc lập tiến hành các hoạt động XTDL của riêng mình bằng hình thức xúc tiến được pháp luật cho phép nhằm kích thích du khách sử dụng sản phẩm dịch vụ du lịch mà mình cung cấp. Trong khi đó, hoạt động xúc tiến thương mại thì là thương nhân nói chung, vai trò của Nhà nước cũng hạn chế hơn. Như vậy, nhóm chủ thể xúc tiến thương mại rộng và bao quát hơn so với nhóm chủ thể XTDL.
– Thứ hai, về mục đích: Theo quy định của Luật Thương mại năm 2005, hành vi xúc tiến thương mại là nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hóa, dịch vụ nói chung. Hoạt động XTDL cũng chia sẻ mục đích như vậy. Tuy nhiên, tính liên ngành của du lịch cho thấy hoạt động XTDL còn có một đích đến xa hơn đó là quảng bá du lịch của vùng, địa phương, và cả đất nước nói chung. Một mặt, các chủ thể XTDL thúc đẩy việc cung ứng dịch vụ du lịch của mình cho khách hàng trong và ngoài nước, mặt khác, thông qua hoạt động này, hình ảnh thiên nhiên, cảnh vật và con người địa phương và đất nước được quảng bá rộng rãi, từ đó lại tạo thêm lực hấp dẫn đối với các du khách. Hoạt động XTDL có thể có tác động gián tiếp đối với địa phương và cộng đồng dân cư nơi có địa điểm du lịch được quảng bá. Nguồn thu của người dân và địa phương sẽ có mức cải thiện đáng kể nếu như hình ảnh du lịch được quảng bá và biết đến rộng rãi.
– Thứ ba, về cách thức xúc tiến do các chủ thể tiến hành: Hoạt động xúc tiến du lịch và xúc tiến thương mại nói chung đều có căn cứ pháp lý là Luật Thương mại năm 2005, trong đó các hình thức xúc tiến gồm: Khuyến mại, quảng cáo, giới thiệu sản phẩm dịch vụ du lịch và hội chợ, triển lãm du lịch. Ngoài ra, xúc tiến du lịch còn là một hoạt động được thể chế hóa trong pháp luật về du lịch của Việt Nam. Vì vậy, cách thức XTDL của thương nhân cũng có những đặc tính của hoạt động này, bao gồm việc nghiên cứu thị trường, tổ chức tuyên truyền, quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển và thu hút khách du lịch.
2.1.2. Đặc điểm xúc tiến du lịch
Xúc tiến du lịch có những đặc điểm chủ yếu sau:
* Về bản chất: Xúc tiến du lịch là hoạt động thương mại, có tác dụng thúc đẩy cơ hội thực hiện các hoạt động mua bán, cung ứng sản phẩm dịch vụ du lịch.
* Về chủ thể: Chủ thể thực hiện XTDL là thương nhân, ngoài ra còn có các tổ chức, cá nhân khác hoạt động liên quan đến du lịch.
* Về mục đích: Xúc tiến du lịch nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội cung ứng sản phẩm dịch vụ du lịch. Lý luận và thực tiễn kinh doanh cho thấy, các biện pháp thông tin du lịch, quảng cáo, triển lãm du lịch…, nhằm giới thiệu, khuếch trương cho thương nhân và hoạt động du lịch của họ đều mang lại hiệu quả phát triển du lịch, bao gồm cả đầu tư. Như vậy, lý luận cũng như thực tiễn kinh doanh không hạn chế mục đích tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội đầu tư để phát triển du lịch nói chung.
* Về hình thức pháp lý để xúc tiến du lịch: Luật Du lịch năm 2017 không quy định cụ thể, nhưng Luật Thương mại năm 2005 quy định các hình thức: Khuyến mại; quảng cáo; giới thiệu sản phẩm dịch vụ; hội chợ, triển lãm để thực hiện khi XTDL. Trong khi đó, tùy thuộc vào nhu cầu của thương nhân kinh doanh và mức độ phát triển của nền kinh tế, có thể có những hình thức khác cũng mang lại tác dụng thúc đẩy cơ hội du lịch cho thương nhân hoặc thương nhân có thể kết hợp áp dụng đồng thời nhiều hình thức XTDL.
Vì vậy, nghiên cứu lý luận có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật thực định.
- Thương nhân du lịch – Chủ thể tiến hành xúc tiến du lịch
Tiếp cận dưới góc độ pháp luật thương mại, tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội du lịch là nhu cầu và hoạt động tất yếu của thương nhân nói chung, chứ không riêng gì các thương nhân trong lĩnh vực du lịch. Pháp luật thừa nhận quyền tiến hành hoạt động XTDL của thương nhân nhằm điều chỉnh hài hòa lợi ích của các chủ thể liên quan đến việc thực hiện hoạt động này của họ.
Thương nhân là tổ chức, cá nhân hoạt động thương mại một cách thường xuyên và mang tính nghề nghiệp. Để thừa nhận tư cách thương nhân, làm cơ sở xác định đối tượng áp dụng pháp luật; pháp luật các nước quy định một hay một số dấu hiệu cần thiết để nhận diện thương nhân với tư cách là chủ thể của các quan hệ pháp luật. Điều 6 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “1. Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. 2. Thương nhân có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại các địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm. 3. Quyền hoạt động thương mại hợp pháp của thương nhân được Nhà nước bảo hộ…”
Như vậy, theo Luật Thương mại hiện hành, thương nhân du lịch bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Theo quy định này, chủ thể kinh doanh được coi là thương nhân khi hội đủ ba điều kiện: (Một), là cá nhân hoặc tổ chức thành lập hợp pháp; (Hai), có hoạt động thương mại về du lịch độc lập thường xuyên, trong đó, hoạt động thương mại về du lịch được hiểu là mọi hoạt động có mục đích sinh lời diễn ra trong các lĩnh vực mua bán, cung ứng dịch vụ du lịch; (Ba), có đăng ký kinh doanh khi thực hiện các hoạt động thương mại về du lịch. Quy định mở về “hoạt động thương mại” cho phép xác định mọi tổ chức, cá nhân đăng ký kinh doanh du lịch trong nền kinh tế đều là thương nhân du lịch, đều chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Luật Du lịch và các luật liên quan khi hoạt động thương mại nói chung và XTDL nói riêng.
Về nguyên tắc, chi nhánh, văn phòng đại diện của thương nhân không phải là chủ thể độc lập tham gia quan hệ pháp luật. Do vậy, việc thực hiện các hoạt động XTDL phụ thuộc vào sự ủy quyền của thương nhân và thương nhân phải chịu trách nhiệm cuối cùng về hoạt động XTDL của các chủ thể đó. Chi nhánh có chức năng hoạt động kinh doanh nên trong phạm vi thẩm quyền hoạt động của chi nhánh, pháp luật không giới hạn quyền hoạt động XTDL của chi nhánh. Đối với văn phòng đại diện, do chỉ làm chức năng đại diện cho thương nhân nên không trực tiếp thiết lập các quan hệ du lịch, kể cả quan hệ XTDL, trừ khi được thương nhân ủy quyền từng trường hợp cụ thể. Phạm vi, mức độ tham gia quan hệ XTDL của chi nhánh, văn phòng đại diện của thương nhân sẽ được xác định theo pháp luật thực định về vấn đề này.
Thương nhân hoạt động XTDL tại Việt Nam gồm nhiều loại:
– Phụ thuộc vào quốc tịch của thương nhân thì có thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài, trong đó thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập, đăng ký kinh doanh theo pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài công nhận.
– Phụ thuộc vào mục đích thực hiện quyền hoạt động XTDL, có thể chia thành hai loại: Thương nhân hoạt động XTDL cho mình và thương nhân kinh doanh dịch vụ XTDL. Thương nhân hoạt động XTDL cho mình tự thực hiện các biện pháp XTDL để tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán, cung ứng sản phẩm dịch vụ du lịch cho mình trên cơ sở quyền tự do hoạt động XTDL được pháp luật ghi nhận. Thương nhân kinh doanh dịch vụ XTDL thực hiện các hoạt động XTDL nhưng nhằm mục đích tìm kiếm thúc đẩy cơ hội thương mại liên quan tới du lịch cho thương nhân khác trên cơ sở hợp đồng dịch vụ để hưởng thù lao.
– Ngoài ra, phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động của thương nhân, có thể phân thành hai loại: Thương nhân hoạt động trong lĩnh vực du lịch và thương nhân hoạt động liên quan tới lĩnh vực du lịch. Thứ nhất, thương nhân kinh doanh lữ hành thực hiện việc giới thiệu, quảng cáo các sản phẩm dịch vụ của mình trên các phương tiện thông tin đại chúng và in ấn các tờ rơi, thành lập các trang thông tin điện tử để trước tiên là quảng cáo các sản phẩm dịch vụ du lịch của mình, đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, địa phương ra quốc tế và các khu vực khác một cách rộng rãi. Các doanh nghiệp du lịch được quyền chủ động hoặc phối hợp với các tổ chức, cá nhân khác để tiến hành các hoạt động XTDL trong và ngoài nước, tham gia các chương trình XTDL quốc gia. Chi phí hoạt động xúc tiến quảng bá của doanh nghiệp được hạch toán vào chi phí của doanh nghiệp. Thứ hai, các thương nhân nói chung khác, tuy không ghi nhận du lịch là mục tiêu kinh doanh của mình nhưng hoạt động của các thương nhân này lại có mức độ liên quan nhất định tới việc hỗ trợ, ngành du lịch thuận lợi hơn. Đây có thể là những doanh nghiệp, tập đoàn không hoạt động chuyên biệt trong lĩnh vực du lịch nhưng lại có tính chất phụ trợ, góp phần vào sự phát triển của ngành du lịch, ví dụ như: Hãng hàng không quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines), Vietjet Air, các doanh nghiệp vận tải đường bộ, đường thủy, các ngân hàng, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu… Các doanh nghiệp này thực hiện hoạt động kinh doanh thường ngày và liên tục của mình nhưng lại gián tiếp tuyên truyền, quảng bá, XTDL nói chung.
Cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên nhưng không phải đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật cũng có quyền hoạt động XTDL. Trước đây, Nghị định 37/2006/NĐ-CP ngày 04/4/2006 của Chính phủ cho rằng do tính chất nhỏ lẻ của chủ thể này so với thương nhân, quyền hoạt động XTDL của nhóm này có phạm vi giới hạn hơn và không được phép thực hiện một số hình thức XTDL phức tạp, như tổ chức chương trình có tính may rủi, phiếu dự thi, chương trình khách hàng thường xuyên, tổ chức hội chợ, triển lãm ở trong và ngoài nước (khoản 3, Điều 2). Tuy nhiên khi có Nghị định 81/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 thay thế Nghị định 37/2006/NĐ-CP, nhìn chung, cá nhân hoạt động thương mại độc lập được hưởng quyền hoạt động XTDL gần như tương đương với thương nhân.
Phạm vi luận án chỉ nghiên cứu hoạt động XTDL của thương nhân kinh doanh du lịch mà không mở rộng ra hoạt động cung ứng dịch vụ XTDL của thương nhân kinh doanh dịch vụ XTDL nói chung cho các thương nhân du lịch.
- Các thành tố tác động đến môi trường xúc tiến du lịch của thương nhân
* Chính sách và hoạt động quản lý, phát triển du lịch
Các quốc gia có nhiều hoạt động đa dạng tạo môi trường thuận lợi liên quan đến XTDL của thương nhân như: Đề ra chính sách du lịch, ban hành pháp luật, thiết lập các quan hệ ngoại giao – thương mại, du lịch và những hoạt động XTDL cụ thể.
Nội dung hoạt động XTDL của Nhà nước (Chính phủ và các cơ quan thuộc Chính phủ) được quy định từ Điều 67 đến Điều 75 Luật Du lịch năm 2017) thể hiện ở hai phương diện:
– Trực tiếp thực hiện các hoạt động XTDL ở tầm vĩ mô với tư cách quản lý nhà nước về XTDL; thành lập các cơ quan XTDL và thực hiện XTDL thông qua các tổ chức đó (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch, Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch…); đàm phán và ký kết các hiệp định du lịch song phương, đa phương, tạo điều kiện tiếp cận thị trường rộng hơn cho thương nhân và dịch vụ du lịch của thương nhân; hoạt động thông tin du lịch quốc gia…
– Để thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động XTDL, Chính phủ thực hiện các hoạt động chủ yếu như xây dựng, hoàn thiện môi trường pháp lý phù hợp để điều chỉnh hoạt động XTDL, kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm trong việc thực hiện các quy định pháp luật về XTDL; xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình XTDL, định hướng và phát triển các hoạt động XTDL của quốc gia, doanh nghiệp. Chính phủ thành lập các cơ quan, tổ chức trực thuộc để thực hiện chức năng XTDL. Ở Việt Nam, Tổng cục Du lịch (trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) có nhiệm vụ tổ chức các hoạt động XTDL ở trong nước và ở nước ngoài; điều phối các hoạt động XTDL liên vùng, liên địa phương theo phân cấp của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Bên cạnh đó, xây dựng các sản phẩm tuyên truyền, quảng bá du lịch, các chương trình, sự kiện, hội nghị, hội chợ, hội thảo về du lịch cấp quốc gia, khu vực và quốc tế; nghiên cứu, khảo sát, đánh giá, phân loại thị trường du lịch ở trong nước và ở nước ngoài; nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển thị trường, sản phẩm du lịch và nguồn nhân lực du lịch; tổ chức thực hiện các dự án đầu tư về du lịch thuộc thẩm quyền theo phân công, phân cấp của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra còn có Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch (trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), tên giao dịch tiếng Anh của Quỹ là: “Viet Nam Tourism Development Fund”; tên viết tắt là “VTDF” được thành lập theo Quyết định số 49/2018/QĐ-TTg ngày 12/12/2018 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là đại diện chủ sở hữu. Quỹ là đơn vị hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có báo cáo tài chính riêng, có con dấu, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và ngân hàng thương mại hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch, bố trí kinh phí tổ chức triển khai hoạt động XTDL; hỗ trợ các hoạt động phát triển du lịch theo quy định của Luật Du lịch, phù hợp với chiến lược và quy hoạch phát triển du lịch Việt Nam.
Các phương diện hoạt động của Chính phủ liên quan đến XTDL có tác động trực tiếp đến hoạt động du lịch và XTDL của thương nhân. Môi trường pháp lý kinh doanh thuận lợi, thông thoáng, các hiệp định du lịch song phương, đa phương được ký kết… tạo thuận lợi cho thương nhân tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch, thâm nhập mạnh hơn vào thị trường du lịch thế giới. * Môi trường cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động xúc tiến du lịch
Động lực để thương nhân hoạt động XTDL, mở rộng thị trường, tìm kiếm mục tiêu chính là do cạnh tranh. Do đó, lợi ích kinh tế của các đối thủ cạnh tranh với thương nhân XTDL có thể bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại do các hành vi XTDL không lành mạnh như giảm giá dịch vụ du lịch quá mức, quảng cáo có dấu hiệu so sánh, sai sự thật, không đúng với chất lượng dịch vụ…Vì vậy, khi điều chỉnh quyền tự do hoạt động XTDL của thương nhân, pháp luật còn quan tâm, bảo vệ đảm bảo việc cạnh tranh lành mạnh giữa các thương nhân.
* Bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng (khách hàng)
Mục tiêu mà thương nhân hướng tới trong XTDL chính là người tiêu dùng các sản phẩm dịch vụ du lịch (khách hàng, khách du lịch). Người tiêu dùng là mọi tổ chức, cá nhân, bao gồm cả tổ chức, cá nhân kinh doanh (đại lý bán lẻ, thương nhân khác). Người tiêu dùng là đối tượng tiếp nhận thông tin về dịch vụ du lịch của thương nhân, là đối tượng được hưởng lợi ích mà thương nhân phát tặng hoặc hứa thưởng. Các hành vi gian lận, thiếu trung thực của thương nhân đều có thể ảnh hưởng đến lợi ích của họ. Vì vậy, pháp luật đều coi trọng vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khi thừa nhận quyền tự do hoạt động XTDL của thương nhân.
2.1.3. Các hình thức xúc tiến du lịch do thương nhân thực hiện
Đây chính là cách thức thương nhân liên hệ với thị trường, được tiến hành thông qua các biện pháp thông tin, tiếp thị hoặc dành lợi ích cho khách hàng để tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội du lịch. Xuất phát từ mức độ phát triển của nền kinh tế, đặc điểm của các quan hệ du lịch đã và đang hình thành các hình thức XTDL ở các nước khác nhau có thể có sự khác biệt về cách thức tiến hành, tính phổ biến của từng loại…
Việc xác định, lựa chọn các hình thức, nội dung XTDL để nghiên cứu trong luận án căn cứ trên hai cơ sở:
* Thứ nhất, căn cứ vào cơ sở pháp lý của các hình thức xúc tiến thương mại được quy định tại Luật Thương mại hiện hành, thì các hình thức xúc tiến du lịch được được nghiên cứu là các hình thức được quy định khá phổ biến trong pháp luật Việt Nam
Pháp luật hiện hành của Việt Nam quy định các hình thức xúc tiến thương mại được áp dụng thực hiện trong hoạt động XTDL gồm: Khuyến mại; quảng cáo; giới thiệu sản phẩm dịch vụ; hội chợ, triển lãm du lịch tại Luật Thương mại năm 2005, cụ thể:
– Khuyến mại du lịch: Là hoạt động XTDL của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán, cung ứng sản phẩm dịch vụ du lịch bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định, để tạo ra điều kiện thuận lợi, thúc đẩy mạnh mẽ việc bán, cung ứng sản phẩm dịch vụ du lịch – đây là dấu hiệu cơ bản để phân biệt khuyến mại với các hoạt động XTDL khác.
– Quảng cáo du lịch: Là hoạt động giới thiệu sản phẩm dịch vụ du lịch của thương nhân thông qua các phương tiện quảng cáo như báo chí, phương tiện truyền hình, các ấn phẩm, bảng, biển, băng rôn, panô, áp phích… Quảng cáo có ý nghĩa thông tin đến khách hàng về chất lượng, giá cả, lịch trình… của sản phẩm dịch vụ du lịch để từ đó kích thích nhu cầu mua và sử dụng sản phẩm dịch vụ du lịch của khách hàng. Quảng cáo có tính thông tin một chiều, không có đối thoại mà chỉ là độc thoại của người quảng cáo, thường là tự đề cao mình. Đặc điểm này của quảng cáo có thể mang lại phiền toái cho khách hàng trong khi đánh giá tính chính xác, trung thực của thông tin. Nếu luật pháp không có cách thức kiểm soát thoả đáng, thương nhân sẽ sử dụng quảng cáo du lịch để phát ngôn tuỳ ý, ảnh hưởng tới lợi ích của người tiêu dùng và thương nhân khác… Với tính chất thông tin đại chúng, quảng cáo cho phép khẳng định tính chính thức cho sản phẩm dịch vụ du lịch và góp phần tạo nên uy tín cho sản phẩm du lịch.
– Giới thiệu sản phẩm dịch vụ du lịch: Là hành vi của thương nhân dùng tài liệu về sản phẩm dịch vụ du lịch để giới thiệu với khách hàng về sản phẩm dịch vụ du lịch mà họ có khả năng cung cấp. Với cách thức này, thương nhân sử dụng ấn phẩm, tài liệu thông tin mẫu sản phẩm dịch vụ du lịch để cung cấp giới thiệu cho khách hàng.
Ấn phẩm, tài liệu thông tin sản phẩm dịch vụ du lịch có vai trò quan trọng là một hình thức quảng bá truyền thống tiếp thị sản phẩm, dịch vụ du lịch. Hiện có nhiều loại ấn phẩm với nhiều thể loại, chất liệu có giá trị đang được sử dụng. Ấn phẩm thông tin du lịch là tất cả những tài liệu dạng in ấn hoặc điện tử được thiết kế để tạo ra sự nhận biết, nâng cao hình ảnh sản phẩm, dịch vụ, điểm đến du lịch, tạo niềm tin cho người tiêu dùng tiềm năng và quảng cáo sản phẩm du lịch. Vì thế, ấn phẩm thông tin du lịch cần được nghiên cứu để đưa ra hình ảnh ấn tượng, thông điệp hấp dẫn về sản phẩm dịch vụ du lịch trên các ấn phẩm truyền thông sẽ có tác động mạnh mẽ đến việc thu hút người tiêu dùng cũng như khơi gợi sự tò mò khám phá của họ.
Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ số, đã giúp cho việc tạo ra nhiều loại ấn phẩm, tài liệu quảng bá độc đáo, ấn tượng và sống động hơn cả về nội dung, lẫn hình thức với chi phí hợp lý. Đối với hoạt động XTDL, các doanh nghiệp thường lựa chọn các phương tiện truyền tải thông tin du lịch phục vụ cho quá trình XTDL các loại ấn phẩm thông tin, tài liệu du lịch như sau: Tài liệu thiết kế và in trên vật phẩm bằng giấy như tờ rơi, tập gấp, sách mỏng về du lịch, sách giới thiệu, hướng dẫn du lịch, bản đồ du lịch, pano, tờ áp phích… thứ hai là tài liệu thiết kế trên vật phẩm điện tử như đĩa CDrom, đĩa DVD, USB…
Đặc trưng cơ bản của du lịch, là quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm dịch vụ du lịch diễn ra đồng thời, nó không lưu kho hay cất giữ được như các sản phẩm thông thường. Các ấn phẩm truyền thông là những sản phẩm hiện hữu thay thế cho các sản phẩm dịch vụ, điểm đến du lịch thông qua những thông tin, hình ảnh sống động, hấp dẫn được giới thiệu trong mỗi ấn phẩm. Như vậy, để có các ấn phẩm quảng bá du lịch hiệu quả, thì cần chú ý đến một số yêu cầu: Trang bìa phải độc đáo, ấn tượng thì mới gợi nhớ, thu hút sự tò mò của người xem; nội dung phải ngắn gọn, súc tích nhưng đầy đủ và chính xác; hình ảnh minh họa hấp dẫn, mới lạ và cuối cùng là phải có thông tin hình ảnh về danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử,… cần phải cung cấp thêm các thông tin về cơ sở lưu trú, ăn uống, mua sắm, giao thông đi lại, bản đồ điểm đến, các trung tâm thông tin du lịch, mã vùng, số điện thoại cần thiết…
– Hội chợ, triển lãm du lịch: Là hoạt động XTDL tập trung trong một thời gian và tại một địa điểm nhất định để thương nhân trưng bày giới thiệu sản phẩm dịch vụ, tài liệu về sản phẩm dịch vụ du lịch nhằm mục đích thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội giao kết hợp đồng mua bán cung ứng sản phẩm dịch vụ du lịch.
Thông thường, hội chợ là hoạt động mang tính định kỳ được tổ chức tại địa điểm, thời gian thích hợp, là nơi người bán, người mua trực tiếp thực hiện hành vi mua bán sản phẩm tour du lịch và thiết lập các giao dịch du lịch. Triển lãm có hình thái gần giống hội chợ nhưng mục đích của người tham gia triển lãm chủ yếu là để giới thiệu, quảng cáo và khai thác cơ hội giao dịch du lịch chứ không nhằm mục đích bán lẻ dịch vụ tại chỗ. Khác với hội chợ, triển lãm thường ít được tổ chức định kỳ, nhưng trong thực tế, hội chợ và triển lãm thường được tổ chức phối hợp nên gọi chung là hội chợ, triển lãm. Pháp luật du lịch của Việt Nam không có sự phân biệt điều chỉnh đối với hội chợ và triển lãm du lịch.
Hội chợ, triển lãm du lịch là một công cụ không thể thiếu để mở rộng thị phần các thị trường hiện tại hoặc thâm nhập thị trường mới. Là một phương tiện xúc tiến hiệu quả mà doanh nghiệp du lịch tổ chức việc giới thiệu sản phẩm dịch vụ, điểm đến, tham gia các hoạt động giao tiếp để quảng bá, gặp gỡ và giao dịch với khách hàng nhằm mục đích thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội giao kết hợp đồng, trực tiếp bán dịch vụ, phát triển mối quan hệ với thị trường khách hàng tiềm năng có được thông tin của họ để có chiến lược thu hút sau này. Ngoài ra, tìm hiểu, đánh giá thêm về ngành du lịch, thị trường và đối thủ cạnh tranh của mình. Nó mở rộng các đặc điểm, nhận thức, sự có mặt, tầm nhìn và giới thiệu sản phẩm dịch vụ, điểm đến du lịch mới trong một khoảng thời gian, không gian nhất định.
Hội chợ, triển lãm du lịch thường niên cấp địa phương, vùng, quốc gia hay quốc tế không chỉ là nơi gặp gỡ, trao đổi, giao thương của nhà chuyên nghiệp du lịch gồm những người mua (Buyers) và những người bán (Sellers) mà còn phục vụ cả quảng đại công chúng (những khách hàng tiềm năng). Hội chợ, triển lãm du lịch là công cụ xúc tiến quan trọng nhằm tiếp cận và thu hút các nhà đầu tư, khách du lịch tiềm năng, triển lãm du lịch còn là cơ hội tốt cho các nhân viên tiếp thị sản phẩm dịch vụ, điểm đến có thể thiết lập mạng lưới quan hệ với nhau, trao đổi kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ và thu thập thông tin về các đối thủ cạnh tranh.
Do hội chợ, triển lãm thường diễn ra tương đối ngắn chỉ vài ngày đến một tuần. Hoạt động lại diễn ra trong một môi trường kinh doanh và chuyên biệt về du lịch nên thương nhân phải có sự chuẩn bị tổ chức quy trình tham gia hội chợ triển lãm phù hợp với định hướng sản phẩm dịch vụ và thị trường mục tiêu của dịch vụ. Đặc biệt, để đảm bảo cho việc tham gia hội chợ, triển lãm thành công, tránh sự tốn kém lớn về kinh phí và thời gian, gian hàng phải được thiết kế ấn tượng, bài trí đẹp và sôi nổi. Ngoài ra, cần lựa chọn nhân viên có hiểu biết về dịch vụ, điểm đến, có khả năng giao tiếp tốt để giới thiệu tại gian hàng và cung cấp đầy đủ tài liệu tiếp thị giới thiệu, nhiệt tình quan tâm đối với người tiêu dùng để thu hút khách đến tham quan và tạo cảm giác cho khách ấn tượng về chương trình tham gia hội chợ.
Những lợi ích mà hội chợ triển lãm du lịch mang lại là vô cùng lớn và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của thương nhân. Đối các doanh nghiệp hạn chế kinh phí để quảng bá, xúc tiến bán, quan hệ công chúng nhất là trên thị trường quốc tế thì đây là điều kiện tốt để XTDL.
Thứ hai, căn cứ vào đặc điểm kinh tế của các hình thức xúc tiến du lịch, thì các hình thức XTDL do thương nhân thực hiện, có khả năng tăng phát triển du lịch mà biểu hiện cụ thể của nó là hiệu quả tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán cung ứng dịch vụ du lịch của thương nhân trong đó có những biện pháp XTDL nhưng pháp luật chưa quy định: Như hình thức quan hệ công chúng (PR); quản trị mối quan hệ khách hàng (CRM); ứng dụng thương mại điện tử (Ecommerce) để XTDL.
Trong đời sống pháp lý có những hình thức XTDL phát sinh trong thực tiễn, được thương nhân sử dụng như là công cụ để xúc tiến quảng bá cho sản phẩm, dịch vụ du lịch của mình đó là:
– Hình thức quan hệ công chúng (PR):
“Public Relations” được hiểu đúng nghĩa là “quan hệ công chúng”, “quan hệ cộng đồng” hoặc “quan hệ đối ngoại” để phát triển thương hiệu. Hoạt động này được bắt đầu ở Mỹ từ đầu thế kỷ XX. Trên thế giới, PR đã không còn là khái niệm mới và các doanh nghiệp du lịch từ lâu đã coi PR như một công cụ hữu hiệu để củng cố vị thế sản phẩm, thương hiệu du lịch của họ trong lòng công chúng; khi chi phí quảng cáo du lịch, ngày càng cao, nhiều thương nhân, doanh nghiệp du lịch đã tìm kiếm các giải pháp khác rẻ hơn, hiệu quả hơn để XTDL.
Các thương nhân đã sử dụng PR để cải thiện khả năng cung ứng sản phẩm dịch vụ du lịch, củng cố vị thế, xây dựng niềm tin về sản phẩm dịch vụ du lịch trong lòng công chúng, phát thông tin tới giới truyền thông và lôi kéo sự chú ý của họ đối với sản phẩm dịch vụ du lịch và thương hiệu du lịch của họ.
Hoạt động của các doanh nghiệp du lịch nhằm xây dựng mối quan hệ với các nhóm công chúng trên cơ sở cung cấp thông tin dưới các hình thức khác nhau về hình ảnh của doanh nghiệp, về các sản phẩm hấp dẫn, các dịch vụ chu đáo, chuyên nghiệp, phù hợp với nhu cầu của công chúng, tạo ấn tượng, hình ảnh tốt đẹp của doanh nghiệp cho công chúng. Khách hàng hiện tại và tiềm năng là nhóm công chúng rõ ràng nhất. Tuy nhiên, các cơ quan Chính phủ, các nhà cung cấp dịch vụ, các nhóm công dân hoạt động liên quan đến môi trường, xã hội, các cơ quan truyền thông báo chí, các tổ chức tài chính, tín dụng, các nhà đầu tư cũng là nhóm công chúng quan trọng. Công tác PR của thương nhân còn phải thực hiện cho nhóm công chúng nội bộ bao gồm lãnh đạo, nhân viên công ty, hội đồng cổ đông, hội đồng cố vấn và các nhà thầu. Các hoạt động chính của PR là quan hệ với hệ thống báo chí, quảng cáo các sản phẩm và dịch vụ, tổ chức công tác truyền thông doanh nghiệp, triển khai công tác tư vấn khách hàng, tham gia các sự kiện văn hóa, xã hội, các hoạt động thiện nguyện, chia sẻ khó khăn với cộng đồng và xã hội, có kế hoạch khắc phục khủng hoảng và thiên tai, bão, lũ. Để công tác PR thành công và bền vững, vấn đề cốt lõi là cung cấp cho khách hàng các sản phẩm tốt, công bố công khai về chất lượng và giá cả sản phẩm dịch vụ có tinh thần hợp tác và thân thiện với khách du lịch và đối tác.
Các công cụ PR được các thương nhân du lịch sử dụng chủ yếu bao gồm các ấn phẩm, tin tức về sản phẩm dịch vụ du lịch mới, các hoạt động của doanh nghiệp, các bài phát biểu, các dịch vụ công ích và các hoạt động xã hội của doanh nghiệp. Phương thức PR là sử dụng các công cụ truyền thông truyền thống (sách, báo, bản tin) hoặc hiện đại (truyền hình, truyền thanh, thư điện tử, mạng xã hội), các sự kiện văn hóa, du lịch và các sự kiện xã hội. Thương nhân cũng sử dụng PR để tiến hành hoạt động khuyến mại khi bán sản phẩm dịch vụ du lịch, công tác nghiên cứu thị trường, nghiên cứu nhu cầu các nhóm khách hàng khác nhau để xây dựng chính sách khuyến khích tiêu dùng phù hợp với mỗi nhóm. Để triển khai công tác PR, mỗi doanh nghiệp du lịch có thể thành lập bộ phận quan hệ công chúng độc lập, hoặc có cán bộ chuyên trách nằm trong bộ phận tiếp thị của doanh nghiệp.
– Hình thức quản trị mối quan hệ khách hàng (CRM):
“Customer Relationship Management” là toàn bộ các quy trình thu thập, tổng hợp và phân tích thông tin về khách hàng, sản phẩm dịch vụ du lịch, hiệu quả của công tác tiếp thị du lịch, khả năng thích nghi của thương nhân đối với các xu hướng của thị trường du lịch nhằm mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, mang lại lợi nhuận cao nhất cho thương nhân kinh doanh du lịch.
Đây là một phương pháp tiếp cận của thương nhân để hiểu và ảnh hưởng đến hành vi của khách hàng thông qua các giao tiếp. CRM là xây dựng chiến lược phát triển gắn bó khách hàng qua nghiên cứu nhu cầu, thói quen của khách hàng. Nghiên cứu từ xa hoặc tiếp cận, trao đổi với khách hàng có hệ thống. Đó là chiến lược của các thương nhân trong phát triển quan hệ gắn bó khách hàng qua những nghiên cứu, phân tích sâu nhu cầu và thói quen của khách. Thiết lập mối quan hệ tốt đẹp với khách hàng để cung ứng các sản phẩm dịch vụ du lịch theo thị hiếu của họ.
CRM là toàn bộ các quy trình thu thập, tổng hợp và phân tích thông tin về khách hàng, dịch vụ cung cấp, hiệu quả của các công tác tiếp thị, khả nǎng thích nghi của doanh nghiệp đối với các xu hướng của thị trường nhằm mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, mang lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp. Trong thực tiễn, thương nhân thực hiện CRM qua 04 công đoạn: (i) Công đoạn 1 là tiếp thị: đây là công việc chính của CRM. Tiếp thị được thực hiện bằng các công cụ là Email Marketing, SMS Marketing, Chatbot, mạng xã hội. Đây là công đoạn phân loại khách hàng. (ii) Công đoạn 2 là bán hàng: Sau khi xác thực được khách hàng đầu mối, nhân viên bán hàng tiến hành lập hồ sơ khách hàng tiềm năng và khách hàng đi tour được tạo trên CRM và sẽ tiến hành các hoạt động bán hàng, giới thiệu tour, các sản phẩm dịch vụ, báo giá, thảo hợp đồng và ký kết. Nhân viên phòng kế toán thu tiền tạm ứng, lập hồ sơ khách hàng tiềm năng thành khách hàng thật sự trên phần mềm. (iii) Công đoạn 3 là thực hiện tour: Phần mềm thực hiện các việc như đặt nhà hàng, khách sạn, đặt vé máy bay, đặt xe, thuê hướng dẫn viên và tổ chức đoàn… Cập nhật hoạt động tour, giải quyết những phát sinh, xử lý sự cố và thanh lý tour qua CRM; chăm sóc khách hàng được thực hiện bằng điện thoại, email, phiếu khảo sát, thư chúc mừng sinh nhật… (iv) Cuối cùng lập báo cáo lên ban lãnh đạo để đánh giá việc thực hiện kế hoạch và công việc của nhân viên, đồng thời dự báo kế hoạch kinh doanh sắp tới của doanh nghiệp lữ hành.
– Hình thức ứng dụng thương mại điện tử (Ecommerce) trong xúc tiến du lịch:
Sự bùng nổ mạnh mẽ của internet và các ứng dụng công nghệ thông tin mới đã và đang đem lại những thay đổi chưa từng có trong lĩnh vực công nghiệp du lịch. Thông tin trực tuyến hiện là một trong những yếu tố có ảnh hưởng hàng đầu đối với các quyết định của du khách. Vì vậy, hiện nay các doanh nghiệp nắm bắt và ứng dụng thương mại điện tử để tiếp thị điện tử (E-marketing) trở nên cấp thiết trong quảng bá XTDL Việt Nam hiện nay.
Việc ứng dụng thương mại điện tử để tiếp thị điện tử phục vụ quảng bá XTDL là rất đa dạng, tùy thuộc vào thương nhân thực hiện. Tuy nhiên, trong thực tiễn thương nhân đã ứng dụng thương mại điện tử để tiến hành XTDL: (i) Giới thiệu, quảng bá sản phẩm dịch vụ và xây dựng thương hiệu du lịch qua mạng; (ii) Nghiên cứu, phân đoạn thị trường du lịch qua mạng internet; (iii) Khai thác thông tin du lịch và thị trường du lịch qua mạng; (iv) Dịch vụ và quan hệ khách hàng (CRM) qua mạng. Với tốc độ phát triển mạnh mẽ của internet như hiện nay, thì việc lựa chọn hình thức thương mại điện tử để E-marketing đã trở thành yêu cầu bắt buộc để theo kịp nhu cầu thị trường và nâng cao sức cạnh tranh. E-makerting giúp truyền tải thông tin trực tiếp tới khách hàng một cách nhanh chóng, cập nhật và trọn gói. Các tour, chương trình khuyến mại giảm giá, ưu đãi có thể quảng cáo qua nhiều hình thức như: Website, thư điện tử, diễn đàn…Nhiều doanh nghiệp du lịch đã xây dựng website và cho phép khách hàng đặt tour qua mạng. Điều này giúp cho doanh nghiệp cũng như khách hàng tiết kiệm chi phí, thời gian. Sự phát triển của công nghệ thông tin cũng giúp doanh nghiệp dễ dàng quản lý và phân loại hệ thống khách hàng.
Có thể thấy đây là các hình thức XTDL rất hiệu quả đang diễn ra trong đời sống pháp lý nhưng chưa được pháp luật thừa nhận điều chỉnh. Nó tồn tại song song bên cạnh các hình thức XTDL “truyền thống” là khuyến mại, quảng cáo, giới thiệu sản phẩm dịch vụ, hội chợ, triển lãm du lịch mà thương nhân đang kết hợp sử dụng trong thực tiễn XTDL. Vì vậy, đây là vấn đề cần thiết phải luật hóa điều chỉnh bằng pháp luật.
2.2. Lý luận pháp luật về xúc tiến du lịch
2.2.1. Khái niệm pháp luật về xúc tiến du lịch
Pháp luật điều chỉnh quan hệ XTDL có nội dung quy định về hoạt động XTDL của nhiều chủ thể, trong đó, các mối quan hệ có những khác biệt, nên khái niệm pháp luật về XTDL được nghiên cứu làm rõ theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp.
- Theo nghĩa rộng
Pháp luật về XTDL là tổng hợp các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội hình thành trong quá trình Nhà nước, thương nhân và các tổ chức XTDL thực hiện các biện pháp XTDL. Về hình thức, các quy định pháp luật về XTDL được ghi nhận trong nhiều văn bản, thuộc nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau, trong đó, chủ yếu là lĩnh vực pháp luật thương mại, du lịch.
* Hoạt động xúc tiến du lịch rất đa dạng và khác nhau về tính chất, có rất nhiều mối quan hệ hình thành giữa các chủ thể, đó là:
– Quan hệ giữa Nhà nước với Nhà nước: Đó là các hoạt động của Chính phủ Việt Nam đàm phán, ký kết hiệp định du lịch với Chính phủ nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế, đàm phán về việc đặt các văn phòng xúc tiến du lịch, văn phòng đại diện du lịch của Việt Nam ở nước ngoài.
– Quan hệ giữa Nhà nước với thương nhân XTDL, với thương nhân kinh doanh dịch vụ XTDL và các tổ chức XTDL: Đó là những quan hệ mang tính chất tổ chức, quản lý, hình thành trong quá trình Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động du lịch nói chung và XTDL nói riêng.
– Quan hệ giữa thương nhân kinh doanh du lịch với khách hàng hoặc khi thương nhân sử dụng các biện pháp XTDL để thông tin, mang lại lợi ích… nhằm tác động đến thái độ và hành vi mua sắm, sử dụng các dịch vụ du lịch của họ; quan hệ với các tổ chức chuyên nghiệp cung cấp dịch vụ XTDL (phạm vi luận án không đi sâu vào quan hệ này mà chỉ đề cập như minh chứng trong việc thương nhân kinh doanh du lịch tổ chức thực hiện XTDL).
– Quan hệ giữa thương nhân XTDL với nhau để giải quyết các vấn đề lợi ích có liên quan khi xuất hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Các mối quan hệ xã hội trên, về cơ bản thuộc các nhóm chính:
– Nhóm các quan hệ du lịch: Hình thành trên cơ sở sự thoả thuận, cam kết giữa các chủ thể làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ cung ứng dịch vụ du lịch (hợp đồng).
– Nhóm quan hệ giữa các quốc gia tạo thị trường kết nối du lịch quốc tế (điều ước quốc tế).
– Nhóm quan hệ tổ chức, quản lý các hoạt động du lịch: Hình thành giữa Nhà nước (cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước) với thương nhân và các tổ chức XTDL; có bản chất là quan hệ hành chính.
* Xét về nội dung cơ bản của các quy phạm pháp luật, các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ xúc tiến du lịch trên có thể phân chia thành ba nhóm chính:
– Các quy định ghi nhận quyền tự do hoạt động XTDL của thương nhân: Bao gồm các nội dung quy định về các hình thức pháp lý để thương nhân XTDL, cách thức thực hiện các hoạt động XTDL, các quy định liên quan đến cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động XTDL, các quy định về quyền lựa chọn dịch vụ XTDL để kinh doanh của thương nhân.
– Các quy định pháp luật bảo đảm thực thi quyền tự do hoạt động XTDL phù hợp với lợi ích của nhà nước, của thương nhân khác và của người tiêu dùng: Bao gồm các nội dung chủ yếu quy định về quản lý nhà nước trong hoạt động XTDL: Bao gồm các quy định về thẩm quyền quản lý Nhà nước (của Chính phủ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan quản lý ở địa phương), quy định về trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động XTDL mà thương nhân phải thực hiện, quy định về giám sát, kiểm tra hoạt động XTDL của thương nhân, xử lý vi phạm pháp luật về XTDL, quy định về trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong thực thi quyền tự do hoạt động XTDL.
– Các quy định pháp luật quốc tế có liên quan đến XTDL của Nhà nước và các tổ chức XTDL của Nhà nước cũng như chính sách pháp luật mở cửa thị trường du lịch của các quốc gia.
Qua nghiên cứu, có thể thấy đối tượng điều chỉnh của pháp luật về XTDL theo nghĩa rộng rất đa dạng, bao gồm các quan hệ kinh tế – xã hội diễn ra giữa các Nhà nước, giữa các thương nhân với nhau, giữa thương nhân với khách hàng, giữa thương nhân với cơ quan quản lý nhà nước và nhiều chủ thể có liên quan khác. Đây là một chế định pháp luật, bao gồm các quy phạm được quy định trong nhiều ngành pháp luật khác nhau như: Luật Thương mại, Luật Du lịch, Luật Dân sự, Luật Quốc tế…
Vì vậy, có thể định nghĩa pháp luật về XTDL theo nghĩa rộng: Là tổng hợp các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ du lịch và tổ chức, quản lý hoạt động du lịch hình thành trong quá trình Nhà nước, thương nhân và các tổ chức xúc tiến du lịch thực hiện các biện pháp xúc tiến du lịch.
- Theo nghĩa hẹp
Pháp luật về XTDL được tiếp cận với tư cách là một bộ phận của pháp luật thương mại, pháp luật du lịch điều chỉnh các quan hệ thương mại của các thương nhân kinh doanh du lịch phát sinh trong quá trình XTDL của thương nhân khi tiến hành các hành vi XTDL cụ thể như phần trên đã phân tích.
Chủ thể của những quan hệ này là thương nhân hoạt động XTDL, họ phải thực hiện tất cả các quyền và nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, pháp luật về XTDL theo nghĩa hẹp được tiếp cận là một bộ phận của pháp luật thương mại, pháp luật du lịch, chỉ bao gồm các quy định điều chỉnh các quan hệ du lịch phát sinh trong quá trình XTDL của thương nhân.
* Các quan hệ du lịch trong hoạt động các thương nhân kinh doanh du lịch có đặc điểm:
– (i) Chủ thể tham gia chủ yếu là thương nhân, trong đó có thể một bên chủ thể tham gia không phải là thương nhân mà chỉ là tổ chức, cá nhân hoạt động liên quan đến du lịch.
– (ii) Lĩnh vực phát sinh chủ yếu là quá trình thương nhân thực hiện các hoạt động XTDL.
– (iii) Có tính chất kinh doanh dịch vụ chủ yếu được thực hiện thông qua hình thức hợp đồng.
* Có thể thấy, theo nghĩa hẹp, pháp luật về XTDL điều chỉnh các quan hệ:
– Quan hệ thương mại trong lĩnh vực du lịch hình thành khi thương nhân tự mình tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội cung ứng sản phẩm dịch vụ du lịch thông qua các biện pháp thông tin, tiếp thị hoặc dành lợi ích cho khách hàng để tác động tới thái độ và hành vi mua bán của khách hàng.
– Quan hệ sử dụng dịch vụ hình thành giữa thương nhân có nhu cầu XTDL với thương nhân kinh doanh dịch vụ XTDL hoặc tổ chức XTDL có khả năng cung cấp dịch vụ (không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án).
– Quan hệ giữa thương nhân XTDL với người tiêu dùng, với chủ phương tiện thông tin trên cơ sở đảm bảo tính lành mạnh của hành vi cạnh tranh trong quá trình XTDL của thương nhân.
Vì vậy, có thể định nghĩa pháp luật về xúc tiến du lịch theo nghĩa hẹp: Là tổng hợp các nguyên tắc, quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ thương mại khi thương nhân kinh doanh du lịch tiến hành các hành vi xúc tiến du lịch hình thành trong quá trình tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán, cung ứng sản phẩm dịch vụ du lịch thông qua các biện pháp thông tin, tiếp thị hoặc dành lợi ích cho khách hàng để tác động tới thái độ và hành vi mua sắm sản phẩm dịch vụ du lịch của khách hàng.
Pháp luật về XTDL theo nghĩa hẹp đóng vai trò quan trọng trong việc ghi nhận và bảo đảm thực hiện quyền tự do hoạt động XTDL của thương nhân, bảo vệ lợi ích của thương nhân XTDL, lợi ích của thương nhân khác, lợi ích của người tiêu dùng và cả lợi ích của Nhà nước. Hiện nay, các quy định pháp luật này chủ yếu được ghi nhận trong Luật Thương mại năm 2005, Luật Du lịch năm 2017, Luật Cạnh tranh năm 2018, Luật Quảng cáo năm 2012, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và một số văn bản pháp luật khác có liên quan.
Phạm vi luận án tiếp cận pháp luật điều chỉnh hành vi XTDL của thương nhân kinh doanh du lịch theo nghĩa hẹp.
2.2.2. Nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với xúc tiến du lịch
Pháp luật về XTDL sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động marketing du lịch theo hướng chuyên nghiệp, có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm chất lượng hiệu quả, khẳng định thương hiệu và khả năng cạnh tranh. Đây là cơ sở cho các hoạt động của các doanh nghiệp du lịch Việt Nam quảng bá, tuyên truyền, tổ chức hội chợ và triển lãm các sản phẩm dịch vụ du lịch đặc trưng của mình nhằm thu hút khách tới và quay lại các khu, điểm du lịch ở Việt Nam, từ đó nâng cao thị phần tại các thị trường mục tiêu mà Việt Nam hướng tới. Thông qua hoạt động XTDL của các doanh nghiệp, Việt Nam được nhận diện là điểm đến an toàn, hấp dẫn trong cảm nhận của khách du lịch quốc tế, từ đó tạo tác động tích cực đối với thị trường khách quốc tế nói chung.
Trên phương diện thương mại, hoạt động XTDL của thương nhân chỉ thực sự hình thành trong nền kinh tế thị trường, khi mà có nhiều chủ thể kinh doanh cùng có khả năng cung cấp những sản phẩm dịch vụ du lịch giống hoặc gần giống nhau; ngược lại, người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn phù hợp với nhu cầu của mình. Hiện nay, các hoạt động kinh doanh du lịch đã và đang ngày càng phát triển về loại hình, số lượng, tần suất, và mức độ. Để cạnh tranh, giành giật thị phần khách hàng trên thị trường, các doanh nghiệp trong và liên quan tới lĩnh vực du lịch đã chú trọng nhiều hơn tới hoạt động XTDL, mà cụ thể là hoạt động khuyến mại; quảng cáo; giới thiệu sản phẩm dịch vụ du lịch; hội chợ, triển lãm, du lịch. Tuy nhiên, vì mục đích tối đa hóa lợi nhuận, thương nhân XTDL có thể bất chấp lợi ích quốc gia, lợi ích của thương nhân khác và của cả người tiêu dùng. Trong nhiều trường hợp, hoạt động XTDL không chỉ quảng bá sản phẩm dịch vụ du lịch hay uy tín của thương nhân mà còn biểu hiện rõ nét về hình ảnh đất nước và con người Việt Nam. Trong lĩnh vực du lịch, vấn đề này lại càng nhức nhối và nổi cộm. Do vậy, thiệt hại mà quốc gia có thể phải gánh chịu do hoạt động XTDL của thương nhân có thể được thể hiện dưới góc độ kinh tế, chính trị, văn hóa… Đối với thương nhân là đối thủ cạnh tranh, lợi ích cạnh tranh của họ bị đe dọa bởi những hành vi XTDL không lành mạnh nhằm mở rộng thị phần. Về phần người tiêu dùng, họ có thể phải gánh chịu thiệt hại do hành vi lừa dối, gian lận, cố tình gây nhầm lẫn của thương nhân trong hoạt động XTDL.
Để có thể tối đa hóa hiệu quả của XTDL với tính chất là một mắt xích trong toàn bộ “dây chuyền” cung ứng sản phẩm dịch vụ du lịch thì nhu cầu pháp luật điều chỉnh hoạt động này cần luôn hiện hữu. Cơ sở hành lang pháp lý rõ ràng, minh bạch và cụ thể là điều kiện tiên quyết để các hoạt động XTDL của doanh nghiệp du lịch diễn ra một cách suôn sẻ và có trật tự, đồng thời cũng là cách thức bảo vệ lợi ích của người mua và sử dụng sản phẩm dịch vụ du lịch nói chung.
Trong điều kiện đó, thực tế đòi hỏi phải có một hành lang pháp lý vững chắc để điều chỉnh hoạt động XTDL, đưa các hoạt động xúc tiến này vào khuôn khổ, tạo ra một trật tự cần thiết để các chủ thể liên quan có thể dự liệu được hành vi và hệ quả hành vi của mình. Thông qua công cụ pháp luật, ba mục tiêu lớn được bảo đảm:
– Thứ nhất, bảo đảm quyền tự do kinh doanh của thương nhân trong đó có hoạt động XTDL mà pháp luật ghi nhận. – Thứ hai, bảo đảm tốt nhất quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng (khách du lịch) bởi họ thường ở thế yếu so với thương nhân cung cấp dịch vụ, khả năng tiếp cận thông tin cũng hạn chế hơn.
– Thứ ba, bảo đảm hoạt động XTDL diễn ra một cách minh bạch, cạnh tranh bình đẳng trong thị trường du lịch; bảo đảm XTDL ở tầm vĩ mô; mở rộng thị trường du lịch của thương nhân trong khuôn khổ pháp luật.
2.2.3. Các nguyên tắc pháp luật về xúc tiến du lịch
Các nguyên tắc của pháp luật xúc tiến du lịch là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo quán triệt và xuyên suốt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật XTDL trong việc điều chỉnh các quan hệ liên quan tới hoạt động XTDL.
Thứ nhất, Nhà nước xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch, chương trình XTDL quốc gia, điều phối các hoạt động XTDL liên vùng, liên tỉnh. Các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương và địa phương có trách nhiệm phối hợp với nhau và với các tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch trong việc thực hiện hoạt động tuyên truyền, quảng bá, XTDL theo quy định của Luật Du lịch.
Thứ hai, mọi thương nhân bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động XTDL. Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Đây là nguyên tắc hiến định đã được ghi nhận tại Điều 16 Hiến pháp năm 2013. Đặc biệt, trong hoạt động du lịch, thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế thì đều có được tư cách bình đẳng trước pháp luật. Việc ghi nhận pháp lý này có giá trị rất lớn trên phương diện thực tiễn khi mà ở Việt Nam, doanh nghiệp Nhà nước vẫn đóng vai trò và nắm giữ nhiều nguồn lực thiết yếu hơn so với khu vực tư nhân. Đồng thời, với việc được ghi nhận tư cách pháp lý bình đẳng, thì tất cả các thương nhân đều có quyền tự do thực hiện các biện pháp XTDL với vì mục tiêu lợi nhuận của họ.
Thứ ba, xúc tiến du lịch của thương nhân phải được thực hiện hợp pháp, trung thực, công khai, minh bạch và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng, của các thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân khác và lợi ích quốc gia Nguyên tắc này đòi hỏi các hoạt động XTDL của thương nhân phải chấp hành quy định pháp luật về xúc tiến thương mại và du lịch được ghi nhận tại Luật Thương mại năm 2005, Luật Du lịch năm 2017 và các văn bản pháp luật khác.
Thương nhân XTDL thường sẽ chịu sự chi phối bởi lợi nhuận, vì vậy, dễ dàng bỏ qua lợi ích của các chủ thể liên quan trong trường hợp xung đột. Do đó, mặc dù XTDL là quyền tự do của thương nhân, tuy nhiên, quyền này không phải là không có giới hạn. Quyền này chỉ có giá trị trong trường hợp thương nhân XTDL phải đồng thời bảo đảm được quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng, của các thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân khác. Nếu không, thương nhân XTDL sẽ xâm phạm vào các quy phạm pháp luật bảo vệ người tiêu dùng, cạnh tranh không lành mạnh và phải gánh chịu hậu quả pháp lý do hành vi của mình gây ra.
Cùng với đó, hoạt động XTDL phải bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, lợi ích chính đáng và an ninh, an toàn cho khách du lịch, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch. XTDL gắn với bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, tài nguyên thiên nhiên, khai thác lợi thế của từng địa phương và tăng cường liên kết vùng. Xuất phát từ lợi ích quốc gia, dân tộc luôn đứng hàng đầu, hoạt động XTDL dù dưới hình thức nào cũng phải bảo đảm các lợi ích nêu trên không bị xâm phạm.
Thứ tư, thương nhân thực hiện XTDL có trách nhiệm bảo đảm về chất lượng sản phẩm dịch vụ du lịch được khuyến mại, quảng cáo, giới thiệu dịch vụ, hội chợ, triển lãm du lịch.
Nguyên tắc này có liên hệ mật thiết với nguyên tắc thứ ba ở khía cạnh bảo vệ người tiêu dùng, khách du lịch, những người trực tiếp tiếp nhận thông tin XTDL từ phía thương nhân. Xuất phát từ nguyên do là người tiêu dùng, khách du lịch thường đứng ở thế yếu so với thương nhân, khả năng tiếp cận thông tin của họ cũng hạn chế hơn nhiều, do đó, họ dễ trở thành nạn nhân của những sản phẩm dịch vụ du lịch không như nội dung khuyến mại, quảng cáo.
Cuối cùng, hoạt động XTDL của thương nhân không được đưa ra kèm với điều kiện ép buộc khách hàng phải từ bỏ, từ chối sản phẩm dịch vụ du lịch của thương nhân, tổ chức khác; không có sự so sánh trực tiếp sản phẩm dịch vụ của mình với sản phẩm dịch vụ du lịch của thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân khác. Đây được coi là nguyên tắc trong pháp luật cạnh tranh giữa các thương nhân nhằm bảo đảm môi trường kinh doanh du lịch lành mạnh.
2.2.4. Nội dung và khung pháp lý xúc tiến du lịch của thương nhân
Trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành và các quan hệ kinh tế – xã hội hình thành trong quá trình XTDL của thương nhân, có thể xác định nội dung cơ bản của pháp luật điều chỉnh về XTDL của thương nhân bao gồm: Pháp luật về các hình thức XTDL trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh lành mạnh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, với khung pháp lý là các văn bản quy phạm pháp luật về: Thương mại, du lịch, quảng cáo, cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
- Các hình thức, nội dung xúc tiến du lịch
Là sự ghi nhận bằng pháp luật các cách thức, biện pháp tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán, cung ứng sản phẩm dịch vụ du lịch của thương nhân. Nội dung của nhóm quy định này tập trung vào các vấn đề: Các hình thức pháp lý để XTDL, đặc điểm thương mại của từng hình thức; cách thức thực hiện; quyền và nghĩa vụ của thương nhân; các hạn chế, nghiêm cấm trong quá trình thực hiện XTDL.
Các hình thức XTDL của thương nhân được quy định tại Luật Thương mại năm 2005 và các văn bản hướng dẫn (Nghị định 81/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại) gồm: Khuyến mại; quảng cáo; giới thiệu sản phẩm dịch vụ du lịch; hội chợ, triển lãm du lịch. Song, trong khuôn khổ quyền tự do hoạt động XTDL, thương nhân có thể thực hiện những cách thức khác hay kết hợp nhiều hình thức XTDL nếu nó mang lại hiệu quả tốt cho phát triển hoạt động kinh doanh du lịch. Các hành vi XTDL còn được ghi nhận trong Luật Du lịch và các văn bản pháp luật liên quan khác như Luật Quảng cáo….
* Với những nội dung này, pháp luật về các hình thức XTDL có vai trò:
– Là cơ sở pháp lý cho thương nhân thực hiện quyền tự do hoạt động XTDL với nhiều cách thức, biện pháp đa dạng để kích thích nhu cầu của khách du lịch, lôi kéo khách du lịch, tăng lợi nhuận cho mình.
– Bảo vệ các đối thủ cạnh tranh trước nguy cơ xuất hiện cạnh tranh không lành mạnh do thương nhân đã vượt quá khuôn khổ cho phép.
– Bảo vệ người tiêu dùng trước nguy cơ xuất hiện những hành vi lừa dối, gian lận của thương nhân khi thực hiện XTDL.
– Đảm bảo sự kiểm soát vĩ mô của Nhà nước đối với hoạt động XTDL của thương nhân.
* Do đó, pháp luật về các hình thức XTDL phải đáp ứng các yêu cầu:
– Kịp thời điều chỉnh các hình thức XTDL mới xuất hiện do nhu cầu kinh doanh, nhu cầu cạnh tranh nếu như những hành vi đó xâm phạm đến lợi ích của người khác, của cộng đồng.
– Các quy định về hình thức XTDL không nên cứng nhắc mà chủ yếu chỉ là sự hướng dẫn hành vi của thương nhân trong kinh doanh, phải cho phép khả năng lựa chọn phù hợp trên cơ sở tự cân nhắc lợi ích.
– Cần có sự đồng bộ, thống nhất trong các quy định của Luật Thương mại, Luật Du lịch, Luật Cạnh tranh, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật Quảng cáo và các văn bản pháp luật khác có liên quan.
Như vậy, với những hình thức XTDL mà pháp luật đã quy định, thương nhân và các chủ thể có liên quan có nghĩa vụ thực hiện các quy tắc xử sự mà pháp luật đã đề ra nhằm bảo vệ lợi ích cho thương nhân XTDL và cả lợi ích của các đối thủ cạnh tranh, của người tiêu dùng và của toàn xã hội.
- Bảo đảm cạnh tranh lành mạnh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Trong quan hệ với người tiêu dùng, thương nhân nhằm vào đối tượng khách hàng (người tiêu dùng) để XTDL, các đối thủ cạnh tranh thì lôi kéo khách hàng bằng các thủ đoạn cạnh tranh khi khuyến mại, quảng cáo, thông tin, tiếp thị… Điều này phản ánh mối quan hệ với người tiêu dùng luôn tồn tại trong quan hệ XTDL và trong cạnh tranh. Không chỉ là công việc kinh doanh của thương nhân, bởi vì người tiêu dùng luôn có nguy cơ bị thiệt hại và cần được pháp luật bảo vệ khi lựa chọn mua và sử dụng sản phẩm dịch vụ du lịch của thương nhân. Bên cạnh các quy định của pháp luật XTDL và pháp luật cạnh tranh, pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng có vai trò đáng kể trong việc quy định trách nhiệm của thương nhân, cơ chế bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng.
Pháp luật cạnh tranh và pháp luật XTDL đều có các quy phạm điều chỉnh hoạt động XTDL của thương nhân.
Pháp luật XTDL chủ yếu quy định khuôn khổ cho thương nhân thực hiện quyền tự do hoạt động XTDL, đóng vai trò hướng dẫn hoạt động kinh doanh. Còn pháp luật cạnh tranh tiếp cận hành vi cạnh tranh nói chung và cạnh tranh thông qua XTDL nói riêng từ mặt trái của nó để quy định các hành vi vi phạm bị coi là cạnh tranh không lành mạnh, hành vi hạn chế cạnh tranh trong XTDL.
Cả hai phương diện tiếp cận này cùng tạo ra hiệu quả cao hơn trong điều chỉnh pháp luật đối vối hoạt động XTDL, song nó đòi hỏi sự thống nhất, đồng bộ trong các quy phạm đó.
2.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện pháp luật về xúc tiến du lịch
- Điều kiện chính trị pháp lý, kinh tế – xã hội
* Chính sách pháp luật và hoạt động xúc tiến du lịch của Nhà nước
So với những công cụ khác như đạo đức, phong tục, tập quán, tín điều tôn giáo, quy định của cộng đồng dân cư hay của các tổ chức xã hội… các chính sách pháp luật của Nhà nước nói chung có những ưu thế vượt trội hơn như tính bắt buộc chung, cưỡng chế; tính xác định về mặt hình thức; tính quy phạm phổ biến…
Nhờ những thuộc tính đó, các chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển du lịch được thể chế hóa bằng chính sách pháp luật của Nhà nước, đưa vào đời sống và trở thành hiện thực trong đời sống; các chính sách pháp luật xác định địa vị pháp lý của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, thương nhân và đến từng cá nhân, từ đó tạo dựng hành lang, khuôn khổ pháp lý cho mọi hoạt động của các chủ thể trong xã hội nói chung và XTDL nói riêng nên có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động XTDL của thương nhân.
Theo Điều 67 Luật Du lịch năm 2017, chính sách pháp luật XTDL được quy định bao gồm bốn nội dung: Thứ nhất, quảng bá, giới thiệu về đất nước, con người Việt Nam, di sản văn hóa, di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh, công trình lao động sáng tạo của con người, bản sắc văn hóa dân tộc nhằm tăng cường thu hút khách du lịch. Thứ hai, xây dựng, phát triển thương hiệu du lịch quốc gia, vùng, địa phương, doanh nghiệp; nghiên cứu thị trường du lịch, xây dựng, quảng bá sản phẩm du lịch phù hợp với thị hiếu của khách du lịch. Thứ ba, tuyên truyền nâng cao nhận thức xã hội về du lịch, góp phần bảo đảm môi trường du lịch an ninh, an toàn, lành mạnh, văn minh, phát huy truyền thống mến khách của dân tộc. Thứ tư, vận động, tìm kiếm cơ hội, tập trung nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch; đa dạng hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.
Các chính sách pháp luật của Nhà nước về XTDL sẽ:
– (i) Định hướng cho hoạt động du lịch phát triển tích cực, vẫn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế song vẫn giữ gìn các giá trị truyền thống và bảo tồn tài nguyên du lịch của đất nước.
– (ii) Hình thành và hoàn thiện môi trường pháp lý toàn diện, ổn định cho hoạt động du lịch trong cả nước, cho từng vùng, từng địa phương và thương nhân, doanh nghiệp kinh doanh du lịch.
– (iii) Dung hoà mối quan hệ và lợi ích giữa du lịch với các ngành kinh tế khác; đảm bảo hài hoà về quyền lợi giữa cộng đồng dân cư, doanh nghiệp, thương nhân kinh doanh du lịch và khách du lịch.
Các hoạt động XTDL tầm quốc gia của Nhà nước (Chính phủ) với vai trò là một chủ thể trong nền kinh tế bao gồm các hoạt động xây dựng chiến lược, kế hoạch, chương trình XTDL quốc gia, có sự tham gia của các doanh nghiệp du lịch tổ chức thực hiện các hoạt động XTDL ở trong nước và nước ngoài; ký kết các hiệp định, điều ước, hợp tác về du lịch với Chính phủ nước ngoài; thiết lập các văn phòng XTDL, đại diện du lịch Việt Nam ở nước ngoài tại các thị trường du lịch trọng điểm; điều phối các hoạt động XTDL liên vùng, liên địa phương; thành lập cơ sở dữ liệu du lịch quốc gia và tổ chức thông tin du lịch tại các cửa khẩu quốc tế, quản lý nhà nước đối với các thương nhân, doanh nghiệp du lịch trong hoạt động kinh doanh du lịch, có tác động lớn đến hoạt động XTDL của thương nhân, doanh nghiệp kinh doanh du lịch, nó góp phần quan trọng về hỗ trợ các thương nhân, doanh nghiệp phát triển kinh doanh dịch vụ du lịch thông qua vai trò dẫn dắt của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch trong phát huy hiệu quả liên kết phát triển du lịch, phát triển sản phẩm dịch vụ, công tác xúc tiến, quảng bá du lịch.
* Các yếu tố kinh tế
Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, đặc biệt từ năm 1950, tại các nước công nghiệp đã phục hồi kinh tế, từ đó dẫn đến thu nhập và quỹ thời gian rảnh rỗi của những người dân các nước này tăng lên. Đây là hai yếu tố cơ bản dẫn tới cầu du lịch tăng cao. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng cứ 1% tăng trưởng GDP sẽ tạo ra tăng trưởng từ 2% – 2,5% trong chi tiêu cho du lịch [65, tr.32]. Đây cũng chỉ là một dự báo để tham khảo vì hoạt động du lịch bị ảnh hưởng mạnh do các yếu tố khác như thiên tai, bệnh dịch, khủng hoảng kinh tế, giá dầu, biến đổi khí hậu… Vì lẽ đó, hiệu quả hoạt động XTDL của các thương nhân thường có những biến động tỉ lệ thuận với tình hình kinh tế thế giới.
Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới, dự báo tăng mạnh trong thời gian tới. Khách du lịch Trung Quốc đang làm thay đổi bản đồ du lịch quốc tế, trở thành thị trường nguồn quan trọng của nhiều quốc gia. Trung Quốc là thị trường nguồn số 1 của Việt Nam. Bất kể một sự thay đổi nào của thị trường này sẽ ảnh hưởng rất lớn đối với du lịch Việt Nam. Việc phục vụ khách du lịch Trung Quốc cũng có không ít thách thức về hiệu quả kinh doanh và sự đảm bảo tính bền vững tương tác hài hòa với các loại khách khác.
* Các yếu tố công nghệ
Ngày nay, cuộc cách mạng 3T (Telecommucation – Transport – Tourism), đó là cuộc cách mạng trong Viễn thông – Công nghệ – Giao thông vận tải để thúc đẩy sự phát triển du lịch. Điều này được thể hiện trong sự phát triển của công nghệ điện tử đã hỗ trợ việc tìm kiếm thông tin trực tuyến. Các tiến bộ về công nghệ này đang làm thay đổi hoạt động du lịch trên toàn thế giới và sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động thiết kế và phân phối sản phẩm du lịch [53, tr.23]. Việc sử dụng các phương pháp và công cụ nghiên cứu thị trường hiện đại có ảnh hưởng trực tiếp đến việc cho ra đời một sản phẩm dịch vụ du lịch mới. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong nghiên cứu marketing sẽ cho ra các kết quả chính xác hơn về các nhu cầu và xu hướng trong du lịch của từng thị trường hoặc từng phân khúc thị trường cụ thể để các nhà quản lý và kinh doanh du lịch có thể xây dựng được các sản phẩm dịch vụ du lịch phù hợp.
Đối với khách du lịch, việc tìm kiếm sản phẩm dịch vụ du lịch, lên kế hoạch đi du lịch, đặt vé, đặt chỗ máy bay và khách sạn trên mạng Internet đã trở nên phổ biến trong những năm gần đây. Do vậy, nếu các điểm đến du lịch không áp dụng công nghệ thông tin trong mọi khía cạnh của phát triển du lịch, từ quy hoạch, phân phối và tiếp thị sản phẩm dịch vụ du lịch… thì điểm đến đó sẽ thất bại trước các đối thủ cạnh tranh.
Chính vì vậy, hoạt động XTDL của thương nhân cần phải gắn với sự phát triển của khoa học công nghệ thì mới có thể vươn xa hơn, quảng bá hình ảnh du lịch tới các thị trường quốc tế, thị trường mục tiêu mà Việt Nam đang nhắm tới.
* Các yếu tố an ninh – chính trị
Các rào cản chính trị qua việc cấp thị thực (visa) đã hạn chế sự phát triển du lịch. Với sự phát triển của công nghệ, của kinh tế, du lịch như một ngành kinh tế cần khuyến khích phát triển, vì thế, nhiều quốc gia đã nới lỏng các thủ tục nhập cảnh cho khách du lịch [112, tr.2]. Các hình thức hộ chiếu điện tử hay visa điện tử sẽ thay thế cho hộ chiếu giấy. Trong tương lai, xu hướng đi lại giữa các quốc gia ngày càng trở nên đơn giản và thuận tiện hơn, tạo điều kiện cho du lịch phát triển, nhưng cũng là yếu tố cạnh tranh gay gắt giữa các điểm đến du lịch.
Trong các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện pháp luật, thực tiễn Việt Nam đang bị rào cản bởi yếu tố an ninh – chính trị trong việc cấp thị thực (visa) của Nhà nước.
Chính sách cấp thị thực nhập cảnh của Việt Nam còn nhiều bất cập so với các điểm cạnh tranh trực tiếp của du lịch Việt Nam trong khu vực các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Việc xin cấp thị thực nhập cảnh Việt Nam được đánh giá là đắt đỏ, không tiện lợi và minh bạch. Trong số 11 quốc gia Đông Nam Á, chỉ còn duy nhất Việt Nam và Myanmar yêu cầu phải xin thị thực trước khi đến đối với đa phần khách du lịch quốc tế nhập cảnh từ 30 ngày trở xuống. Các điểm đến đối thủ quan trọng nhất của Việt Nam trong khu vực ASEAN không chỉ miễn thị thực mà quy định, thủ tục còn rất rõ ràng, minh bạch, nhanh chóng, thuận tiện cho du khách quốc tế. Các quốc gia ASEAN-5 gồm: Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia và Philippin có điểm chung là áp dụng miễn thị thực tối thiểu 30 ngày, tối đa đến 90 ngày cho phần lớn khách du lịch quốc tế [112, tr.3].
Hiện nay, quy định về thời hạn tạm trú liên tục đối với khách quốc tế đến Việt Nam chưa hợp lý, tạo nên rào cản trong phát triển du lịch nói chung và XTDL nói riêng. Tại điểm a, Khoản 1 Điều 31 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam ngày 16/12/2019 quy định “Người nước ngoài nhập cảnh không có thẻ thường trú, thẻ tạm trú còn giá trị sử dụng thì được cấp chứng nhận tạm trú tại cửa khẩu với thời hạn như sau: Thời hạn tạm trú cấp bằng thời hạn thị thực; trường hợp thị thực có ký hiệu DL thời hạn trên 30 ngày thì cấp tạm trú 30 ngày và được xem xét gia hạn tạm trú theo quy định tại Điều 35 của Luật này”. Như vậy, người nhập cảnh bằng visa du lịch chỉ được tạm trú liên tục 30 ngày kể cả khi thời hạn tối đa của visa du lịch là 03 tháng, đồng nghĩa với việc khách du lịch quốc tế tới Việt Nam ngay cả khi đã được cấp thị thực 03 tháng sẽ không thể ở lại liên tục 03 tháng. Quy định này không phù hợp với thông lệ quốc tế, gây khó khăn, phiền hà và tốn kém cho du khách. Việc giới hạn thời gian tạm trú ít hơn nhiều so với thời hạn thị thực không chỉ làm đánh mất cơ hội thu hút các khách du lịch nước ngoài có mong muốn lưu trú dài ngày và chi trả cho những kỳ nghỉ cao cấp tại Việt Nam mà còn không nhất quán, khó giải thích với khách du lịch quốc tế nói chung và không thuận lợi khi thương nhân thực hiện XTDL với rào cản visa như trên.
Sự an toàn của điểm đến là một trong các yếu tố quan trọng hàng đầu khi khách du lịch quyết định lựa chọn điểm đến du lịch. Hoạt động du lịch sẽ không thể phát triển nếu như các điểm đến thường xảy ra chiến tranh, bất ổn chính trị, làm cho sức khỏe và an toàn của khách du lịch bị đe dọa. Các hiện tượng như: trộm cắp, cướp giật, khủng bố, bắt cóc con tin… tại các điểm đến du lịch sẽ làm cho khách du lịch sợ hãi và họ sẽ không bao giờ đến, dù điểm đến đó có sức hấp dẫn cao. Trong thực tế hiện nay, một số điểm đến ở Châu Phi, Trung Đông và Nam Á đang bị ảnh hưởng bởi yếu tố này mặc dù có tiềm năng du lịch lớn [103, tr.15].
Sau những biến cố xung đột chính trị, khủng bố làm cho sự an toàn của các chuyến đi du lịch trở nên đáng lo ngại; quan hệ ngoại giao căng thẳng giữa các quốc gia như Trung Quốc – Hàn Quốc – Nhật Bản do xung đột trên biển Hoa Đông… tạo ra những xu hướng dòng khách chuyển dịch sang những điểm đến thay thế an toàn hơn. Đây là cơ hội đối với Việt Nam nổi lên là điểm đến mới, hấp dẫn, an toàn, thân thiện thay thế các điểm đến kém an toàn hơn từ đó đặt ra yêu cầu đối với du lịch Việt Nam cần nâng cao năng lực đón tiếp khách đáp ứng những phân khúc thị trường này [103, tr.44]. Mặt khác, tình hình phức tạp và bất ổn ở Biển Đông có nguy cơ suy giảm nguồn khách từ thị trường Trung Quốc cũng như sự suy giảm do lo ngại đối với các thị trường nguồn khác.
* Các yếu tố môi trường, biến đổi khí hậu
Ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu là vấn đề toàn cầu lớn, đe dọa sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Biến đổi khí hậu dẫn đến các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão tố, lốc xoáy, lũ lụt, hạn hán, triều cường, sạt lở, động đất, sóng thần, xâm nhập mặn với cường độ ngày càng cao, thiệt hại ngày càng lớn, gây ảnh hưởng tiêu cực đối với phát triển kinh tế – xã hội nói chung và du lịch nói riêng.
Môi trường sinh thái ở Việt Nam được đánh giá là còn tương đối nguyên sơ, có độ đa dạng sinh học cao. Tuy nhiên, những năm gần đây do tác động của công nghiệp hóa, tăng trưởng nóng, phát triển thiếu quy hoạch, thiếu tầm nhìn, làm cho chất lượng môi trường sinh thái suy giảm. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động và thiệt hại nặng nề nhất do biến đổi khí hậu gây ra. Biến đổi khí hậu ngày càng có những biểu hiện bất thường, khó lường: Nước biển dâng, triều cường khu vực ven biển, châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long; bão, lốc xoáy có cường độ mạnh; nhiệt độ nóng, lạnh cực đoan… Các ngành, lĩnh vực chịu ảnh hưởng trực tiếp là nông nghiệp, du lịch, giao thông, năng lượng; các vùng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là Đồng bằng sông Cửu Long, Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên [103, tr.26].
Đây là những yếu tố đáng quan tâm đòi hỏi ngành du lịch nói chung và các doanh nghiệp du lịch nói riêng phải có những biện pháp chuẩn bị về năng lực để thích ứng, giảm thiểu những tác động tiêu cực và chủ động đón nhận những tác động tích cực để có giải pháp thu hút khách du lịch đến với các điểm đến của Việt Nam.
Ý thức pháp luật, văn hóa và đạo đức kinh doanh
Một trong những yếu tố tác động trực tiếp tới hiệu quả thực hiện pháp luật XTDL đó là ý thức pháp luật của tất cả các chủ thể liên quan.
Việc xây dựng và duy trì ý thức pháp luật của các chủ thể liên quan, đặc biệt là các doanh nghiệp, thương nhân trong lĩnh vực du lịch, sẽ bảo đảm môi trường kinh doanh du lịch có trách nhiệm, góp phần xây dựng và củng cố hình ảnh đất nước, con người địa phương trong mắt của khách du lịch quốc tế và khu vực. Đây là một trong những điều kiện tiên quyết để thu hút khách du lịch quay trở lại các khu và điểm du lịch của Việt Nam.
Với tính chất là các bộ phận cấu thành quan trọng của kiến trúc thượng tầng, văn hóa có khả năng chi phối, ảnh hưởng đến nội dung của pháp luật và ngược lại, pháp luật cũng có ảnh hưởng sâu sắc đến các chuẩn mực văn hóa. Các tập quán, thói quen, dù không phải là biểu hiện của văn minh, có thể vẫn được các nhà kinh doanh của những nước kém phát triển sử dụng nếu nó mang lại cơ hội lợi nhuận cho họ (như đặt quảng cáo tại nơi công cộng, kể cả điều đó có khả năng gây ra những phiền toái cho cộng đồng xã hội…). Văn hóa kinh doanh này làm xuất hiện các quy định cấm đoán, hạn chế hành vi của thương nhân trong pháp luật XTDL của Việt Nam mà sự xuất hiện của những quy định đó nhiều khi khó hiểu hoặc lạ lẫm theo quan sát, đánh giá của các luật gia nước ngoài.
Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận. Đạo đức quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội. Trong kinh doanh, đạo đức của những chủ thể tham gia thị trường được phản ánh rõ nét thông qua mối quan hệ cạnh tranh, quan hệ XTDL giữa thương nhân với nhau và giữa thương nhân với người tiêu dùng. Các hành vi XTDL được thực hiện với mục tiêu cạnh tranh không lành mạnh chính là sự phản ánh khía cạnh đạo đức trong kinh doanh. Thay vì dựa vào các nguồn lực thể hiện năng lực và trình độ trong kinh doanh như quy mô vốn đầu tư, doanh số, công nghệ, hiệu quả lợi nhuận… để cạnh tranh, một số thương nhân tiến hành cạnh tranh bằng các biện pháp XTDL thiếu trung thực như: Quảng cáo thổi phồng những đặc tính hữu ích, chất lượng cao hơn thực tế đạt được, bán phá giá dịch vụ, sử dụng thông tin để nói xấu, hạ thấp uy tín của thương nhân khác… Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh thường xảy ra phổ biến ở các nước có trình độ phát triển thấp, hệ thống pháp luật yếu kém hoặc chưa hoàn thiện. Những thủ đoạn trên đây rõ ràng đã đi ngược với các chuẩn mực đạo đức trong kinh doanh, xâm phạm lợi ích của thương nhân khác và của người tiêu dùng. Quan hệ kinh tế xã hội này ngày càng trở nên điển hình, đòi hỏi sự điều chỉnh bằng pháp luật để bảo vệ lợi ích của các chủ thể có liên quan.
Đạo đức kinh doanh của các chủ thể tham gia thị trường trở thành một nhân tố ảnh hưởng đến nội dung của pháp luật về XTDL.
Tải về tại đây để xem đầy đủ tài liệu
Định dạng | Link tải |