[Luận văn 2022] Pháp luật về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam – ThS. Sần Thành Nam
Định dạng | Link tải |

Định dạng | Link tải |
1. Lý do chọn đề tài
Trên thế giới hiện nay xuất hiện 02 xu hướng chính trong hợp tác quốc tế giữa các quốc gia là “toàn cầu hóa” và “khu vực hóa”. Những xu hướng này được biểu hiện thông qua sự gia tăng một cách đột biến của các Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới (Free Trade Agreement – FTA).
Việt Nam đã có những nhận thức về hội nhập quốc tế ngày từ những năm đầu của thế kỷ 21. Đại hội IX của Đảng đã đánh dấu lần đầu tiên Đảng ta đặt trọng tâm chủ trương “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường”[1]. Trong những năm vừa qua, việc hội nhập kinh tế quốc tế và tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) luôn được đặt ra trong các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và Chính phủ như Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế, Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 05/02/2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là Thành viên của Tổ chức thương mại thế giới, Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 về hội nhập quốc tế, Nghị quyết 06-NQ/TW ngày 05/11/2016 Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa XII về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, và gần đây nhất là Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 4/9/2018 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng hiệu lực và hiệu quả hơn.
Việc tham gia trao đổi hàng hóa trên trường quốc tế không thể thiếu sự góp mặt của vận tải biển quốc tế. Vận tải biển quốc tế được ví như mạch máu của thương mại quốc tế khi việc vận chuyển hàng hóa tương tự như sự lưu thông của mạch máu trong cơ thể con người. Nhờ có vận tải biển quốc tế mà hàng hóa đến tay người tiêu dùng một cách nhanh chóng với số lượng lớn hơn trước. Tuy nhiên, vận tải biển quốc tế không thể thành công nếu không có các dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế. Việc chuyên môn hóa khi vận tải biển quốc tế tập trung vào vận chuyển, các dịch vụ khác sẽ do những đơn vị thứ cấp xử lý sẽ giúp việc vận chuyển hàng hóa được nhanh hơn, thuận tiện hơn.
Tuy nhiên, một thực tế đáng buồn là các Doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế lại chưa nắm rõ được các quy định của pháp luật về chính ngành nghề mà mình kinh doanh. Mặt khác, các nghiên cứu viết về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế tại Việt Nam còn hạn chế. Chính vì vậy, đặt ra một yêu cầu cấp thiết là phải có một nghiên cứu chỉ ra những hạn chế khi áp dụng pháp luật về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế.
Với mục đích cung cấp cho Doanh nghiệp Việt Nam cái nhìn cụ thể về pháp luật về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế, tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tuy rằng dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế đã xuất hiện từ rất lâu và được các Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này từ rất sớm, tuy nhiên phạm vi nghiên cứu của đề tài này có rất nhiều khía cạnh để khai thác. Chính vì vậy, với các nhà nghiên cứu, đề tài này tuy quen nhưng cũng rất nhiều vấn đề “mới lạ” cần được nghiên cứu và phân tích. Có khá nhiều các đề tài có thể kể đến như:
Đinh Thị Thanh Huyền, (2007), “Giải pháp thúc đẩy dịch vụ hỗ trợ vận tải biển Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Ngoại thương. Khóa luận tập trung phân tích và làm sáng tỏ những vấn đề thúc đẩy dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế về mặt kinh tế, mặt pháp lý chưa được đề cập quá nhiều.
Vũ Anh Tuấn, (2020), “Cơ hội và thách thức với ngành dịch vụ hỗ trợ vận tải biển Việt Nam trong bối cảnh thực thi cam kết EVFTA”. Bài viết thuộc loạt bài Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia, tác động của hiệp định thương mại tự do thế hệ mới tới thương mại và đầu tư của Việt Nam. Bài viết tập trung việc so sánh mức độ mở cửa thị trường giữa WTO và EVFTA, song song với việc đưa ra một số vấn đề pháp lý liên quan đến dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế.
Cục Hàng hải Việt Nam, (2021), “Dự thảo Đề án phát triển đội tàu vận tải quốc tế của Việt Nam”. Dự thảo của Đề án tập trung vào phân tích thực trạng, đưa ra điểm mạnh, yêu của đội tàu Việt Nam, từ đó đưa ra giải pháp kiến nghị. Mặc dù Đề án có chỉ ra một số hiện trạng về các hoạt động của dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế nhưng nội dung còn sơ sài, chưa phân tích được các quy định của pháp luật.
Nhóm Ngân hàng Thế giới, (2014), “Efficient Logistics: A Key to Vietnam’s Competitiveness”. Cuốn sách của nhóm ngân hàng thế giới đưa ra những nhận định về thị trường cũng như hệ thống chính sách, pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực Logistics. Từ đó, chỉ ra những hạn chế về mặt luật pháp tại Việt Nam liên quan đến logistics nói chung và dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển nói riêng.
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế, (2021), “OECD Competition Assessment Reviews: Logistics Sector in Vietnam”. Báo cáo của OECD chỉ ra những rào cản, hạn chế trong tiếp cận thị trường; đưa ra những nhận định về mục tiêu của chính sách pháp luật và đề ra những khuyến nghị cho việc sửa đổi, bổ sung các chính sách về pháp luật trong lĩnh vực Logistics nói chung và Dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế nói riêng.
Như vậy có thể thấy rằng, các công trình nghiên cứu xoay quanh nội dung pháp luật về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế còn hạn chế. Do đó luận văn sẽ đi sâu vào phân tích pháp luật về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế ở các khía cạnh khác nhau. Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế tại Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm mục đích nghiên cứu những vấn đề lý luận của pháp luật về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu thực tiễn và hậu quả pháp lý khi áp dụng các điều kiện pháp luật về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế trong thực tiễn hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Từ đó, đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
– Tìm hiểu những vấn đề lý luận về pháp luật về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế: khái niệm, đặc điểm của dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế và pháp luật về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế.
– Phân tích các quy định pháp luật hiện nay về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế.
– Liên hệ thực tiễn áp dụng các quy định về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế tại Việt Nam hiện nay. Chỉ ra những vướng mắc, khó khăn gặp phải trong quá trình hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số phương hướng nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn này nghiên cứu các quy định của pháp luật về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế, trong đó tập trung sâu vào thực tiễn áp dụng các quy định này trong thực tiễn hoạt động của ngành nghề này tại Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ tập trung vào pháp luật về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế, đặc biệt là các quy định hiện nay trong pháp luật Việt Nam. Trong quá trình phân tích, có sự so sánh, đối chiếu với các quy định quốc tế và các quốc gia khác trên thế giới nhằm đưa ra góc nhìn khách quan về thực tiễn các quy định về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế tại Việt Nam hiện nay.
5. Các phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở của phương pháp duy vật biện chứng và lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, bên cạnh đó đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phân tích, tổng hợp, thống kê.
Trong qua trình nghiên cứu đề tài này, tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp sau:
Phương pháp tổng hợp, đánh giá được sử dụng nhằm khái quát chung và phát triển những vấn đề lý luận, những số liệu khảo sát trong quá trình thực hiện Luận văn.
Phương pháp phân tích được tác giả sử dụng để phân tích các quy định của pháp luật về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế, phân tích các hợp đồng thực tiễn của doanh nghiệp Việt Nam kí kết với các doanh nghiệp nước ngoài.
Phương pháp thống kê được sử dụng nhằm thống kê các số liệu khảo sát phục vụ cho nghiên cứu đề tài.
Phương pháp nghiên cứu xã hội được sử dụng nhằm mục đích thực hiện các khảo sát liên quan đến mức độ hiểu biết của các doanh nghiệp về khung pháp lý cho dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế tại Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về ý nghĩa khoa học, luận văn là công trình khoa học có ý nghĩa trong việc nghiên cứu về pháp luật về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế – một trong những ngành nghề kinh doanh đang nở rộ trong thời gian gần đây.
Về ý nghĩa thực tiễn, trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế và thực tiễn áp dụng chúng, tác giả đưa ra những vướng mắc còn tồn tại hiện nay trong các quy định của pháp luật. Từ đó, đưa ra những biện pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng như hiện nay.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung đề tài nghiên cứu có 3 chương:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận đối với pháp luật về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế
Chương này trình bày những vấn đề lý luận chung về pháp luật đối với dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế bao gồm khái niệm, đặc điểm về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế và pháp luật về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế.
Chương 2. Pháp luật Việt Nam về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế và thực tiễn áp dụng.
Chương này tác giả phân tích những quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về phân loại, điều kiện kinh doanh, phạm vi hoạt động của dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế trong tương quan so sánh với pháp luật quốc tế. Từ đó, đưa ra những vướng mắc trong thực tiễn hành nghề để chỉ ra những điểm hạn chế của pháp luật.
Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế tại Việt Nam
Qua lý luận và thực tiễn đã phân tích ở chương 1 và chương 2, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về dịch vụ hỗ trợ hoạt động vận tải biển quốc tế tại Việt Nam
[1] Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, trang 664.
Định dạng | Link tải |