[Luận văn 2020] Những khía cạnh pháp lý về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lao động – Thực tiễn và một số kiến nghị – ThS. Nguyễn Việt Hùng
Định dạng | Link tải |

Định dạng | Link tải |
1. Tính cấp thiết đề tài
Việt Nam đang trong thời kỳ phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Hiện tại Việt Nam đón nhận được sự đầu tư mạnh mẽ của các doanh nghiệp nước ngoài, cùng với đó là sự phát triển mạnh mẽ của làn sóng khởi nghiệp, dẫn đến tính cạnh tranh của thị trường ngày càng gay gắt. Các doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh trên thị trường luôn đề cao việc giữ gìn bí mật thông tin, coi đó là yếu tố quan trọng để giữ vững doanh nghiệp. Để thực hiện điều đó, NSDLĐ thường ký với NLĐ những thỏa thuận hạn chế, đặc biệt là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh “Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh” (non-compete agreement) trong lĩnh vực lao động nhằm mục đích phòng ngừa, hạn chế NLĐ tiết lộ, sử dụng, lợi dụng trái phép các bí mật công nghệ, bí mật kinh doanh của NSDLĐ, bảo vệ quyền lợi chính đảng của NSDLĐ và phòng tránh cạnh tranh không lành mạnh từ các đối thủ cạnh tranh trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Điều này đang trở thành một xu hướng phổ biến trên thị trường và nó đã được ghi nhận trong pháp luật lao động của một số quốc gia.
Pháp luật Việt Nam hiện hành tuy có quy định về việc NLĐ và NSDLĐ được quyền thỏa thuận những vấn đề liên quan đến bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, song còn mang khái quát chung và hưởng nhiều hơn đến “thỏa thuận bảo mật/thỏa thuận cấm tiết lộ” (confidentiality agreement/non disclosure agreement), chứ không phải là các quy định trực tiếp về “thỏa thuận hạn chế cạnh tranh” (non-compete agreement).
Tuy nhiên, thực tế trong thời gian qua đã phát sinh một số vụ việc về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lao động. Các vụ việc này cũng đã được đưa ra giải quyết tại Tòa án và được các luật sư gọi vui là “người cũ đòi bồi thường vì kết hôn với tình địch”. Song do chưa có các quy định rõ ràng của pháp luật nên Tòa án còn lúng túng trong việc xét xử khiến cho việc mỗi vụ việc lại được xác định và giải quyết khác nhau. Điều đó làm dấy lên làn sóng tranh luận về giá trị pháp lý của thỏa thuận này, về “chiếc vòng kim cô” của người lao động. Nhiều câu hỏi về những khía cạnh pháp lý đã được đặt ra về vấn đề này. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh liệu có được thừa nhận trong thực tiễn và pháp luật. Tranh chấp về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là tranh chấp lao động hay tranh chấp dân sự, thương mại. Các luật sư, các nhà tư vấn và các nhà nghiên cứu cũng có những quan điểm hết sức khác nhau.
Chính vì thế, tác giả đã lựa chọn để tài “Những khía cạnh pháp lý về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lao động – Thực tiễn và một số kiến nghị” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học với mong muốn thông qua nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn các vụ việc cũng như quy định pháp luật một số quốc gia phát triển về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lao động để tìm ra định hướng và kiến nghị một số giải pháp nhằm tạo hành lang pháp lý cho thỏa thuận này. Từ đó góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của NSDLĐ, bảo đảm quyền lợi cơ bản của NLĐ khi tham gia quan hệ lao động có giao kết về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lao động là một lĩnh vực khá mới mẻ ở Việt Nam. Tuy nhiên cũng đã có một số công trình nghiên cứu xung quanh vấn đề này. Có thể kể đến một số công trình khoa học sau đây:
– Sách “Những vấn đề cơ bản của pháp luật Hoa Kỳ”, Alan B. Momson (chủ biên) (2007), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
– Bài tạp chí “Điều khoản bảo mật – Hạn chế cạnh tranh trong HĐLĐ”, Đoàn Thị Phương Diệp, Nghiên cứu lập pháp 2015. Bài viết “Luật lao động với việc quy định “điều khoản cấm cạnh tranh” trong quan hệ lao động” năm 2002 của tác giả Nguyễn Thị Tú Uyên, Bài viết “Không được làm việc cho đối thủ cạnh tranh – được pháp luật thừa nhận”, Luật sư Trần Văn Trí, Thời báo kinh tế Sài Gòn, 2018. Bài viết: “Không được làm việc cho đối thủ cạnh tranh đã được chấp nhận trong thực tiễn”, Luật sư Trần Văn Trí, Thời báo kinh tế Sài Gòn, tháng 6/2018. Bài viết “Điều khoản cạnh tranh trong hợp đồng NDA” của Luật sư Nguyễn Ngọc Bích, Thời báo kinh tế Sài Gòn, 2018. Bài viết: “Tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng lao động liên quan đến thỏa thuận không cạnh tranh” Ths.Ls. Lê Thị Phương, tạp chí Tòa án, tháng 11/2018. Bài viết “Vấn đề pháp lý trong phán quyết 75/17 của VIAC”, của Phạm Hòa Huấn, trọng tài viên VTA. Bài viết “Tranh chấp NDA- xử sao cho trọn” của LS Đinh Quang Thuận tháng 7/2018. Bài viết, “Tranh chấp NDA- ai tự nguyện đeo vòng kim cô” của luật sư Lạc Duy, đăng trên Saigontimes. Một số bài viết đã đưa ra quan điểm tranh luận xung quanh vấn đề về hiệu lực pháp lý của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh từ một vụ việc thực tiễn được Tòa án thừa nhận.
– Luận văn thạc sĩ:
Có Luận văn thạc sĩ “Xây dựng khung pháp lý cho thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực lao động” năm 2011 của tác giả Vũ Đình Khôi, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ “Các vấn đề pháp lý về điều khoản hạn chế cạnh tranh trong quan hệ lao động” năm 2016 của tác giả Nguyễn Lộc Phúc, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh… Các công trình nghiên cứu này đã luận giải về một số vấn đề lý luận về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (khái niệm, bản chất, đặc điểm, ý nghĩa,…), liên hệ thực tiễn pháp luật một số nước, cũng như bình luận đưa ra quan điểm của mình về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh từ những vụ án cụ thể.
Như vậy có thể thấy tuy đã có một số công trình nghiên cứu về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lao động ở các khía cạnh khác nhau, song, còn mở mức rất hạn chế và chủ yếu là những bài viết xuất phát từ một vụ việc thực tiễn, được Tòa án thừa nhận. Bởi vậy vẫn thiếu vắng những công trình nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ cả về lý luận và thực tiễn những khía cạnh pháp lý về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lao động từ những vụ việc xảy ra trong thực tiễn. Do đó, đây vẫn là đề tài mới, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, cần thiết phải nghiên cứu trong bối cảnh hiện nay.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lao động, đánh giá thực trạng pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lao động ở nước ta, phân tích những khía cạnh pháp lý đặt ra từ những vụ việc thực tiễn, từ đó đề xuất, kiến nghị những giải pháp hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn khách quan của nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế hiện nay.
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau đây:
– Thứ nhất: Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lao động và sự điều chỉnh của pháp luật về vấn đề này.
– Thứ hai: Đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lao động và phân tích một số khía cạnh pháp lý đặt ra từ một số vụ việc trong thực tiễn.
– Thứ ba: Đề xuất một số kiến nghị nhằm xây dựng khung pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực lao động, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và xu thế hội nhập.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu: Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lao động là một vấn đề mới, có phạm vi rộng, có thể nghiên cứu, tiếp cận từ nhiều góc độ. Trong luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu dưới góc độ của Luật Lao động và một số luật có liên quan. Luận văn cũng nghiên cứu về những khía cạnh pháp lý từ một số vụ việc cụ thể trong thực tiễn Pháp luật một số nước cũng được nghiên cứu ở những mức độ nhất định.
– Về phạm vi nghiên cứu: Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là vấn đề rộng được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau. Trong luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lao động ở một số khía cạnh pháp lý cơ bản như bản chất, chủ thể, hình thức, nội dung, giá trị pháp lý của thỏa thuận… Luận văn không nghiên cứu về thủ tục giải quyết các tranh chấp về lĩnh vực này.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật, quan điểm, chủ trương, đường lối cơ bản của Đảng, Nhà nước về quan hệ lao động nói chung trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.
Để giải quyết những nhiệm vụ cơ bản của đề tài, tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp bình luận, đánh giá. Cụ thể:
Chương 1: Để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lao động, tác giả đã chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích và tổng hợp. Bên cạnh đó để làm rõ nội dung điều chỉnh pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lao động, tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp và cả phương pháp so sánh.
Chương 2: Trong chương này tác giả đã sử dụng các phương pháp phân tích, phương pháp bình luận, đánh giá và phương pháp tổng hợp, phương pháp diễn giải để phân tích, đánh giá pháp luật VN về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đồng thời phân tích và làm rõ những khía cạnh pháp lý đặt ra từ những vụ việc cụ thể trong thực tiễn.
Chương 3. Các phương pháp quy nạp, phân tích, bình luận là những phương pháp được tác giả sử dụng chủ yếu trong chương 3 để đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lao động ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
– Ý nghĩa lý luận
Luận là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và tương đối toàn diện về các vấn đề lý luận của thỏa thuận hạn chế cạnh cũng như sự điều chỉnh của pháp luật về vấn đề này qua pháp luật của một số nước, phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và những khía cạnh pháp lý đặt ra từ những vụ việc cụ thể, tạo cơ sở lý luận cho việc xây dựng khuôn khổ pháp luật về thỏa thuận này.
– Ý nghĩa thực tiễn
Những nghiên cứu, đề xuất, kiến nghị của luận văn có ý nghĩa trong việc góp phần xây dựng, hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, tạo cơ sở, tiền để cho NSDLĐ và NLĐ thỏa thuận, xây dựng thỏa thuận hạn chế cạnh tranh một cách hợp lý. Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác có thể tham khảo để giải quyết các vấn đề liên quan đến thỏa thuận này, từ đó góp phần bảo vệ tốt hơn quyền lợi hợp pháp của cả NSDLĐ và NLĐ, hạn chế hành vi cạnh tranh không lành mạnh giữa các chủ thể kinh tế trong tình hình phát triển của kinh tế Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Lời Mở đầu và Kết luận, luận văn được kết cấu gồm 03 chương:
Chương 01: Những vấn đề lý luận về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lao động và sự điều chỉnh của pháp luật.
Chương 02: Thực trạng pháp luật Việt Nam về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh lao động và những khía cạnh pháp lý đặt ra từ thực tiễn.
Chương 03: Một số kiến nghị nhằm xây dựng khung pháp lý về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lao động ở Việt Nam.
Định dạng | Link tải |